Tag Archives: Tiếng Việt

“O rờ gờ chấm vi en” hay là chuyện Tiếng Việt của ai?

Thoạt nghe thì có thể cho rằng câu hỏi này lẩn thẩn. Bởi tiếng Việt tất nhiên là của người Việt. Nhưng nghĩ kỹ một chút sẽ thấy thực ra câu chuyện không đơn giản như vậy. Nếu đơn giản thì đã chẳng có chuyện người ta cho các vua Hùng ăn “bánh Trưng” trong kỳ giỗ Tổ vừa qua hay chuyện các PTV ở Đài THVN vẫn vô tư đọc “vê tê vê chấm o rờ gờ chấm vi en” trong các bản tin hàng ngày.

Người Việt, nếu nói về những người sỉnh ra, lớn lên trên đất VN và mang quốc tịch VN, là đã bao gồm hơn 50 dân tộc có tiếng nói và truyền thống văn hóa khác nhau. Đó là chưa kể ngay cả trong một dân tộc, như dân tộc Kinh lại gồm nhiều cộng đồng khác nhau nữa, tùy theo phân bố địa lý, theo lĩnh vực hoạt động hay có khi theo trào lưu, mỗi cộng đồng đó lại có những khác biệt lớn nhỏ trong cách viết, cách nói với những cộng đồng khác.

Chính vì sự phong phú trong cách nói, và vì thế trong cách viết như vậy nên từ lâu đã có một quy ước không thành văn rằng tiếng Việt (với hàm ý là cách nói và cách viết) lấy cách nói của người Hà nội làm chuẩn. Nghĩa là người Thanh hóa chẳng hạn, có thể nói “Ta chẵng còn ai” với nhau, nhưng khi viết vẫn là “ta chẳng …”. Hay người từ Nghệ – Tĩnh trở vào nói “giựa Mạc tư khoa …” nhưng vẫn viết “ giữa Mạc tư khoa …”

Người Hà nội xưa (xưa theo nghĩa trước khi có những cuộc di dân lớn từ các nơi đổ về trong một thời gian ngắn, làm thay đổi nhanh cơ cấu dân cư cũ – mới) về căn bản vẫn có nguồn gốc từ các tỉnh lân cận tìm về kinh kỳ làm ăn buôn bán, nhưng lâu dần trong một môi trường phố thị họ đã tạo nên một phong cách khác, khác từ cách ăn nói hàng ngày, phong cách đã đi vào ca dao:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng an

Cách nói thanh lịch, tinh tế của người Hà nội xưa mà người ta định giữ lại để làm chuẩn, theo thời gian đã không còn giữ được khi ngay chính bản thân những người có trách nhiệm gìn giữ lại không hiểu biết về cái mình đang giữ. Thế nên mới có những người thản nhiên thay một loạt chữ y bằng chữ i, chắc để bớt đi một chữ trong bảng chữ cái (cho nổi tiếng chăng?) mà rốt cuộc cũng chẳng mang lại ích lợi gì vì vẫn có những trường hợp chữ y không thể bị thay thế. Chắc họ không biết rằng trong cách phát âm của người Hà nội, đọc chữ li kì khác với đọc chữ ly kỳ. Sự khác biệt nhỏ, nhưng vẫn có, và nhận ra hay thể hiện được cái nho nhỏ đó là sự tinh tế của người Hà nội. Tiếc là thời đại ngày nay hình như không còn dành cho sự tinh tế, và thế là người ta thoải mái viết “giao động kí”, “xuất cơm bụi” … Nhiều lắm, kể cả ngày không hết. Và cuối cùng, tất nhiên rồi đến lúc ta phải ăn “bánh trưng” như là một chuyện không tránh khỏi.

Một câu chuyện khác, liên quan đến “vê tê vê”. Không nói tới chuyện đọc các từ nước ngoài chưa được phiên âm đã tống vào văn bản cho PTV đọc, tôi chỉ nói riêng về việc đọc các từ viết tắt của tiếng Việt thôi.

Nói cho công bằng thì chuyện đọc “giê đê pê” và “Gi pi ét” không do các PTV tự nghĩ ra, bởi cho đến bây giờ nhiều người vẫn còn đang tranh luận việc dạy cho trẻ con đọc “a bê xê” hay “a bờ cờ”. Một vấn đề lẽ ra phải được thống nhất từ cách đây hàng chục năm, khi VN và thế giới bắt đầu bước vào một thời kỳ hội nhập và giao thoa mạnh về văn hóa. Vấn đề này không khó và chẳng cao siêu gì, và theo ý kiến của tôi, một người có học vấn phổ thông, câu chuyện rất đơn giản nếu ta phân biệt rõ giữa tên chữ và cách đọc, giống như một người mới học ngoại ngữ cần phải biết khi mới làm quen với bảng chữ cái nước ngoài. Cụ thể như trong tiếng Anh, chữ A có tên là “ây” nhưng cách đọc rất khác nhau tùy theo việc nó nằm trong từ nào và từ đó nằm ở đâu trong câu. Trong khi đó ở VN chưa có sự phân biệt này và khi cãi nhau, ví dụ xem chữ P đọc là pê hay pờ thì chắc hẳn người ta không biết rằng chưa hề có chuẩn để gọi tên thế nào là đúng vì ở VN chưa có khái niệm tên chữ, và vì chữ P là phụ âm vô thanh nên đọc pờ là không chuẩn. Vậy mà họ vẫn tranh luận (cãi nhau)!

Nhưng tại sao và tại ai mà vấn đề rất đơn giản đó vẫn là đề tài gây tranh cãi lâu nay? Câu trả lời chắc rất quen, một câu trả lời “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Bởi thế nên câu chuyện “chuẩn hóa tiếng Việt” hay phong trào “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” – một sự chấp nhận không chính thức rằng tiếng Việt chưa có chuẩn và rằng tiếng Việt đang bị biến dạng –dù được đặt ra, tuy đã lâu rồi nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết mà ngược lại, có vẻ như thực trạng càng ngày càng tệ hơn.

Một câu chuyện dài, rất dài để có kết thúc và cho tới khi chưa có hồi kết thì ta vẫn phải nghe “ gờ o vê chấm vi en”.

Nói về tiếng Việt là nói về một vấn đề rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực. Ở đây tôi chỉ dám nói lên một ý kiến nhỏ về cách đọc và viết trong tiếng Việt mà thôi, trên những phương tiện truyền thông chính thống chứ không phải lối viết phá cách kinh dị trên các blog tuổi teen. Và xin quay lại câu hỏi: Tiếng Việt của ai?

Tháng 5/2010