Tag Archives: máy điều hòa

Phơi

Lâu lâu nói chuyện về chienmon một chút cho nó giống chienja. Nhân thể mang kiến thức cũ ra phơi cho khỏi mốc.

Ấy là chuyện về cái máy điều hòa không khí (ĐHKK), người Bắc gọi tắt là cái điều hòa, còn người Nam thì gọi là cái máy lạnh.
Trong chuyện này thì người Bắc có lý luận đã gọi đúng hơn, vì cái máy ĐHKK có nguồn gốc từ tây và nó được gọi đúng theo cái tên được dịch từ tên tây “Air Conditioner”, trong tiếng tây air là không khí và conditioner là cái điều hòa. Nó không chỉ làm lạnh không khí, mà còn có cả nhiệm vụ làm nóng để dùng vào mùa đông, khi trời quá lạnh. Còn cái máy lạnh, như người Nam hay gọi, đúng ra lại gồm cả một gia đình các loại máy để tạo ra nhiệt độ thấp, như máy làm đá, tủ lạnh và rất nhiều thứ khác đại khái thế.

Về tổng thể, máy lạnh, hay ĐHKK là một loại trong một họ máy được gọi là bơm nhiệt. Tương tự như nước chảy từ cao xuống thấp, trong tự nhiên luôn có một dòng nhiệt năng chuyển từ nơi có nhiệt độ cao tới nơi có nhiệt độ thấp. Và giống như máy bơm nước dùng để bơm nước từ chỗ thấp lên chỗ cao, bơm nhiệt là những máy dùng để chuyển dòng nhiệt từ nơi có nhiệt độ thấp đến nơi có nhiệt độ cao hơn. Tùy theo mục đích dùng bơm nhiệt để tạo ra một môi trường có nhiệt độ thấp hay nhiệt độ cao mà người ta gọi nó là máy lạnh (freezer, cooler) hay máy nóng (heater), hoặc đôi khi dùng nó để tạo ra một môi trường có nhiệt độ ổn định khi nhiệt độ bên ngoài thay đổi, trở nên quá cao hoặc quá thấp và gọi nó là máy điều hòa (conditioner).

Bơm nhiệt có rất nhiều loại khác nhau về nguyên lý hoạt động, phương pháp trao đổi nhiệt, về khoảng nhiệt độ yêu cầu cần tạo ra, về công suất hoạt động của máy, cho đến khác nhau về mục đích và lĩnh vực sử dụng. Ở đây chỉ nói tới ĐHKK gia dụng, nghĩa là nói riêng về một dòng máy bơm nhiệt chu trình nhiệt động ngược, dùng cơ năng để chuyển nhiệt năng từ nơi có nhiệt độ thấp sang nơi có nhiệt độ cao, vận hành bằng động cơ điện 1 pha có công suất vừa phải, khoảng nhiệt độ làm việc yêu cầu không quá lớn, được thiết kế đặc biệt cho mục đích sinh hoạt dân dụng với những tiêu chí riêng, như hình thức thời trang, vận hành tiết kiệm, tiện nghi, dễ sử dụng và bảo trì v.v…

Máy ĐHKK gia dụng thông thường gồm có 2 loại chính, đó là loại 1 cục và loại nhiều cục.
Loại 1 cục ra đời sớm hơn, cả giàn trong và giàn ngoài cùng khối động cơ – máy nén được lắp chung trong 1 vỏ. Nó thường được lắp vào 1 lỗ vuông to giống như một ô cửa sổ trên tường nên còn được gọi là điều hòa cửa sổ.
Loại nhiều cục (thường là 2) có giàn trong và giàn ngoài nằm trong 2 khối riêng. Do động cơ – máy nén nằm ở khối ngoài nên khối trong chỉ còn giàn trong, khá nhẹ, có thể gắn tường hay treo trên trần tùy theo điều kiện lắp đặt và yêu cầu thẩm mỹ.
Cả 2 dạng máy trên đều bao gồm 2 loại máy 1 chiều (chỉ làm lạnh) hoặc 2 chiều (cả làm lạnh, cả sưởi ấm), và động cơ điện đều có thể là loại thông thường hay loại có sử dụng công nghệ biến tần (inverter)

 

Chuyện nên chọn máy điều hòa như thế nào.

Có rất nhiều tiêu chí để chọn máy, chọn theo thương hiệu, theo giá tiền, theo sở thích, v.v… nhưng có một tiêu chí nên theo đầu tiên, đó là công suất máy.

Nói về công suất máy ĐHKK, người Bắc hay dùng đơn vị ngàn Btu, còn người Nam thì hay dùng đơn vị là ngựa. Nghe đã thấy khác nhau, song thực tế, cái khác ấy còn lớn hơn nhiều, khi mà hai cách gọi ấy không chỉ khác nhau về đơn vị tính, mà còn để nói về 2 loại công suất khác hẳn nhau. Đó là công suất của dòng nhiệt năng tải qua máy và công suất điện của các động cơ. Rất nhiều người đã nhầm lẫn khi không phân biệt được 2 loại công suất này.

Khái niệm Btu như người Bắc thường gọi, chính xác phải gọi là Btu/h. Btu -British thermal unit, tức đơn vị nhiệt Anh là một đơn vị đo công suất nhiệt theo hệ Anh. 1 Btu là nhiệt lượng cần thiết để tăng nhiệt độ của một pound nước lên một độ Fahrenheit. Btu/h là lượng nhiệt năng 1Btu đi qua hết trong thời gian 1 giờ. Ngoài Btu và Btu/h, trước đây quê ta còn hay dùng một loại đơn vị khác nghe quen hơn là kcal (kilo ca lo) và kcal/h. 1 kcal là nhiệt lượng cần thiết để tăng nhiệt độ của một kg nước lên một độ Celcius. 1 kcal xấp xỉ 4 Btu, và vì thế 1kcal/h cũng xấp xỉ 4 Btu/h.
Các máy Đhkk dân dụng hiện nay thường được sản xuất với các công suất nhiệt danh định là 7.000, 9.000, 12.000, 18.000, 24.000 (Btu/h) hoặc xấp xỉ. Còn ở quê ta trước đây, các máy Đhkk của Liên xô thường có công suất nhiệt 1.500, 2000, 2.500 (kcal/h) với các tên gọi BK1500, BK 2.000 v.v…

Còn đơn vị ngựa mà dân Nam hay dùng lại để chỉ công suất điện của động cơ trong máy đhkk. Ngựa, hay mã lực (Hp) là một đơn vị đo công suất. 1Hp của Anh và của Pháp khác nhau chút ít, và xấp xỉ 0,74 kW. Máy lạnh 1 ngựa, được hiểu là máy Đhkk dùng động cơ có công suất 1 ngựa, khoảng 0,75 kW. Tùy theo hiệu suất làm lạnh (là tỷ số giữa công suất dòng nhiệt được tải qua máy và công suất điện tiêu thụ để tải dòng nhiệt đó) của Đhkk từng hãng và điều kiện tiêu chuẩn do từng hãng thiết lập, thông thường động cơ 1 ngựa này sẽ đảm bảo cho máy một công suất nhiệt danh định khoảng 9.000 Btu/h khi làm lạnh. Tương tự, máy ngựa rưỡi (công suất điện tiêu thụ khoảng gần 1,1 kW) sẽ có công suất tải lạnh danh định khoảng 12.000Btu/h.

Để dễ chọn máy, người ta thường dựa vào công suất tải nhiệt của máy hơn là công suất điện của động cơ.
Một cách đơn giản và thông dụng nhất, người ta hay chọn máy Đhkk có công suất nhiệt (tính bằng ngàn Btu/h) tương đương với 2/3 diện tích nhà. Hay nói một cách khác, diện tích căn nhà nhiều nhất là bằng 1,5 lần công suất nhiệt của máy. Con số này xuất phát từ những tính toán sơ bộ cho thấy trung bình mỗi giờ, 1 mét vuông nhà có chừng 700Btu nhiệt từ ngoài thâm nhập vào, ở những điều kiện binh thường.
Vi dụ, máy 9.000 có thể dùng tốt cho căn phòng có diện tích khoảng 14m2 trở xuống, còn phòng từ 18m2 trở xuống thì nên dùng máy 12.000 (Btu/h).
Đó là trong những điều kiện thông thường. Với những phòng có nhiều nguồn nhiệt bổ sung hơn, như có máy móc sinh nhiệt, đông người ra vào, nhiều nắng v.v…, diện tich này có thể nhỏ hơn. Và với những phòng có cách nhiệt với bên ngoài tốt hơn, hay chỉ dùng nhiều về đêm, hay v.v…, diện tích này có thể lớn hơn.
Việc chọn máy dư công suất sẽ làm tốc độ thay đổi nhiệt độ trong phòng nhanh hơn, mang lại cảm giác tiện nghi hơn, nhưng đồng thời làm tăng tiền đầu tư mua sắm và tiền điện phải trả so với máy có công suất nhỏ hơn. Tuy nhiên việc chọn dư công suất lại không có ảnh hưởng đến tiền điện nhiều lắm nếu dùng dòng máy inverter.

Ngoài ra còn có thể chọn máy theo các tiêu chí khác để quyết định, như dùng máy Tàu hay máy Nhật, dùng máy 1 chiều hay 2 chiều, 1 cục hay 2 cục, loại thường hay loại inverter (biến tần). Đây là những tiêu chí phụ thuộc chủ yếu vào ngân lượng và sở thích cá nhân nên khó góp ý hơn nhiều.

 

Chuyện làm thế nào để đỡ tốn tiền cho máy đhkk.

Tiền chi cho máy đhkk có thể tạm chia làm 3 loại, không kể tiền mua sắm, lắp đặt ban đầu.
Đó là
-Tiền sửa chữa.
-Tiền bảo dưỡng
-Tiền điện.

Tiền sửa chữa những hỏng hóc bất thường là một khoản sinh ra ngoài ý muốn và không thể biết trước. Tất cả những gì người dùng có thể làm chỉ là tuân theo những chỉ dẫn của NSX về cách lắp đặt, vận hành để giảm thiểu khoản chi này.
Tiền bảo dưỡng là một khoản chi định kỳ không lớn, nhưng rất nhiều người, vì nhiều lý do đã bỏ qua, không hẳn vì lý do tiết kiệm. Đây là một sai lầm rất phổ biến nên tránh. Chi tiền cho việc bảo dưỡng sẽ thu lại được rất nhiều lợi ích khác, nhất là tiết kiệm tiền điện.
Chiếm phần lớn trong chi phí cho đhkk là chi phí về điện, vì thế việc tiết kiệm chi phí cho đhkk chính là việc làm sao để tiết kiệm tiền điện nhất. Hay nói một cách khác, mục tiêu của người sử dụng đhkk là làm sao để điện năng tiêu thụ là ít nhất trong khả năng có thể.

Làm thế nào để giảm điện năng tiêu thụ, về lý thuyết mà nói thì rất phức tạp, nhưng trên thực tế áp dụng thì rất đơn giản. Đó là làm sao để đảm bảo tốt nhất hai yêu cầu: hạn chế lượng nhiệt từ bên ngoài thâm nhập vào phòng (khi ở chế độ làm mát) hoặc từ trong phòng thất thoát ra ngoài (khi ở chế độ sưởi ấm), và thứ hai là giữ cho chênh lệch nhiệt độ giữa giàn trong và giàn ngoài là nhỏ nhất trong phạm vi có thể.

Hạn chế lượng nhiệt từ bên ngoài đi vào (hoặc từ trong ra nếu đang làm ấm) có rất nhiều cách, từ việc tìm cách tăng khả năng cách nhiệt của tường nhà, hạn chế nắng gió ảnh hưởng đến nhiệt độ trong phòng, cho tới những việc đơn giản hơn như thông gió hợp lý, hạn chế đóng mở cửa khi không thật cần thiết. Một cách hạn chế tổn thất nhiệt nữa không nên bỏ qua là việc đặt nhiệt độ trong phòng không chênh lệch quá nhiều với nhiệt độ bên ngoài. Bên cạnh lý do kinh tế, các chuyên gia đã khuyên rằng độ chênh lệch không nên quá 7 đến 10 độ C để tránh ảnh hưởng xấu đến sức khỏe khi người dùng đi từ trong phòng ra ngoài và ngược lại.

Giảm thiểu chênh lệch nhiệt độ giữa hai giàn trong và ngoài rất quan trọng trong việc giảm điện năng tiêu thụ nhưng lại thường không được quan tâm đúng mức. Thông thường người ta hay chú ý đến việc đặt nhiệt độ trong phòng (và do đó là nhiệt độ của giàn trong) không quá chênh lệch với bên ngoài để tiết kiệm điện mà quên mất rằng nhiệt độ của giàn ngoài cũng có ảnh hưởng quan trọng không kém. Để giảm độ chênh lệch này, tốt nhất là lắp đặt giàn ngoài ở nơi nào thông thoáng, ít sương khói bụi bặm, không gian xung quanh không bị mặt trời đốt nóng vào mùa hè hay có gió lạnh trong mùa đông – những yêu cầu không phải lúc nào cũng dễ thỏa mãn nhưng nên đáp ứng tốt nhất trong phạm vi có thể. Một cách đơn giản và rất hiệu quả nữa để giảm chênh lệch nhiệt độ giữa giàn nóng và giàn lạnh là thường xuyên vệ sinh, làm sạch các giàn, nhất là giàn ngoài do nó thường xuyên phải chịu mưa và bụi.

Ngoài ra, việc sử dụng đúng các chức năng của đhkk một cách hợp lý theo hướng dẫn của NSX cũng là một cách tiết kiệm không nên bỏ qua.

 

So sánh qua về máy inverter và máy thường.

 

Máy đhkk dân dụng trên thị trường hiện nay thường được chia làm 2 loại: loại thông thường và loại inverter (biến tần). Loại thông thường sử dụng động cơ điện 1 pha dùng điện trực tiếp từ lưới điện, còn loại inverter thì có thêm một bộ biến tần, biến đổi tần số của điện lưới sang một tần số khác theo ý muốn trước khi cấp điện cho động cơ, nhằm mục đích thay đổi tốc độ của động cơ, qua đó thay đổi công suất của động cơ. Loại biến tần ra đời sau, hiện đại hơn, hẳn nhiên là sẽ ưu việt hơn loại đời trước, song cụ thể, lợi thế đó là gì?

 

Hãy xem một ví dụ cụ thể như sau: một căn phòng lắp một chiếc máy đhkk 9.000 Btu/h. Nhiệt độ trong phòng đang đặt ở 25 độ C, nhiệt độ ngoài trời ổn định ở 35 độ C và trong điều kiện đó, lượng nhiệt từ ngoài thâm nhập vào cùng với lượng nhiệt trong phòng sinh ra đúng bằng 9.000 Btu/h. Trong trường hợp này, nhiệt lượng phát sinh cân bằng với lượng nhiệt mà máy đhkk lấy đi, nhiệt độ trong phòng sẽ luôn ổn định ở 25 độ C, máy đhkk sẽ hoạt động ổn định, không ngừng với hiệu suất làm lạnh tương ứng ở điều kiện chênh lệch nhiệt độ 10 độ C.

Bây giờ, vẫn căn phòng đó, thay cho cái máy 9.000 Btu/h, người ta lắp một chiếc máy 18.000 Btu/h. Lượng nhiệt lấy đi lớn hơn nhiều lượng nhiệt sinh ra, làm cho nhiệt độ căn phòng giảm xuống dưới nhiệt độ yêu cầu là 25 độ C và rơle nhiệt sẽ ngắt, máy đhkk tạm ngừng hoạt động cho tới khi nhiệt độ trong phòng vượt quá 25oC thì rơle nhiệt lại đóng cho máy đhkk chạy trở lại. Quá trình làm mát cứ tiếp tục đóng ngắt như vậy, và nhiệt độ trong phòng luôn dao động quanh mức đặt 25oC, với biên độ vài độ C tùy theo từng NSX.

Thoạt nhìn thì có thể nghĩ rằng mọi việc không có gì thay đổi khi lắp máy đhkk lớn hơn, vì công suất máy lớn hơn thì thời gian hoạt động sẽ ngắn hơn, vì thế lượng điện tiêu thụ không thay đổi. Thật ra mọi việc không đơn giản chỉ có thế. Động cơ điện tiêu thụ thêm một lượng điện năng không nhỏ mỗi khi khởi động, và nó sẽ trở nên đáng kể nếu số lần khởi động so với tổng thời gian chạy lớn hơn bình thường.

Một rắc rối nữa phải kể đến, đó là lượng nhiệt phát sinh và hiệu suất nhiệt của máy đhkk cũng thay đổi khi nhiệt độ trong phòng luôn dao động như vậy. Không may là sự thay đổi này, do đặt yếu tố tiện nghi cho người dùng lên trên, nên nó đã thay đổi theo hướng làm tăng lượng nhiệt thâm nhập vào trong phòng và làm giảm hiệu suất của máy. Cụ thể, lượng nhiệt sinh ra sẽ nhiều hơn 9.000 Btu/h, trong khi hiệu suất làm lạnh của máy bị giảm đi – tương ứng với điều kiện chênh lệch nhiệt độ lớn hơn 10oC. Kết hợp lại, nó sẽ làm cho lượng điện năng tiêu thụ khi dùng máy 18.000 Btu/h lớn hơn so với khi dùng máy 9.000 Btu/h.

 

Từ ví dụ trên, có thể thấy rằng khi công suất của máy đhkk càng dư thừa so với công suất yêu cầu (hay công suất nhiệt sinh ra) thì sự hao phí điện năng càng lớn. Lý tưởng nhất là chọn được một cái máy đhkk có công suất phù hợp với công suất yêu cầu, tuy nhiên, trên thực tế ta không thể nào chọn được một cái máy như vậy. Lý do rất đơn giản: công suất yêu cầu luôn thay đổi, muôn hình vạn trạng. Công suất yêu cầu thay đổi thường xuyên theo thời gian trong ngày, giữa ngày và đêm, theo điều kiện thời tiết bên ngoài, theo nhiệt độ đặt bên trong của người dùng, v.v … Trên thực tế, thông thường người ta chọn máy để đáp ứng được công suất yêu cầu lớn nhất, và vì thế nó sẽ trở nên dư thừa, có khi tới 3 – 4 lần, khi dùng vào những lúc có công suất yêu cầu thấp nhất.

Máy đhkk biến tần sinh ra để giải quyết khó khăn này. Do công suất động cơ có thể biến đổi được nhờ công nghệ biến tần, kết hợp với các cảm biến và bộ điều khiển được lập trình sẵn, máy đhkk biến tần có khả năng tự điều chỉnh công suất máy để phù hợp với công suất yêu cầu. Nói một cách hình ảnh, khi mua về một chiếc máy đhkk biến tần 18.000 Btu/h chẳng hạn, người dùng không chỉ lắp lên tường một chiếc máy 18.000 mà thực chất là lắp hàng chục chiếc máy đhkk có công suất từ vài ngàn cho tới 18.000 để dùng tùy theo nhu cầu và điều kiện sử dụng, đảm bảo nhiệt độ trong phòng luôn ổn định và máy được hoạt động trong điều kiện hợp lý nhất.

Tối ưu, và vì thế tiết kiệm điện hơn so với máy đhkk thường, máy đhkk biến tần chỉ có một nhược điểm lớn là giá cao. Khoảng chênh giá với máy thường này nhiều khi làm giảm tính hấp dẫn do việc tiết kiệm điện mang lại. Ví dụ, với mức giá chênh lệch hiện nay khoảng 3 đến 4 triệu VND đối với máy 12.000 Btu/h (ngựa rưỡi), nếu một gia đình chỉ dùng máy vào ban đêm và 1, 2 giờ vào buổi trưa, mỗi năm chỉ dùng đhkk vào 4, 5 tháng nóng nhất thì khoản tiền tiết kiệm được chỉ vào khoảng 500.000 VND mỗi năm và sau 7, 8 năm người dùng mới được hưởng lợi từ việc dùng máy đhkk biến tần. Bởi thế, những gia đình dùng máy đhkk công suất nhỏ, thời gian dùng không nhiều rất nên để ý tới vấn đề này khi chọn mua máy.

 

Tháng 5/2017