Monthly Archives: Tháng Sáu 2017

Hanoi, Saigon

Nói đến Saigon, thường người ta nghĩ ngay nó là một nơi tụ tập cho người tứ xứ đổ về, như là một đặc trưng riêng của nó. Và cái chất Saigon cũng sinh ra từ cái đặc trưng riêng có ấy.
Giờ đây cái chất Saigon xưa đã phai nhạt nhiều theo chân những người Saigon gộc ra đi, đã pha loãng nhiều theo dòng người từ miền bắc, miền trung chuyển vào, nhưng dù sao cái chất Saigon cũng vẫn còn.
Bởi thế nên trên đường phố Saigon tràn ngập xe mang biển ngoại tỉnh, người nói đủ các loại tiếng từ bắc tới nam, nhưng không mấy ai cảm thấy mình có gì hơn người khác chỉ vì mình đi xe biển thành phố, nói giọng Saigon, hay cũng không có mấy ai cảm thấy mặc cảm gì chỉ vì mình nói giọng bắc hay đi xe mang biển miền tây.

Hanoi thì khác.
Đây là nơi có rồng bay lên, là nơi mang hồn thiêng sông núi, là nơi đất thì linh, người thì kiệt, luôn có những gì nơi khác không có, hoặc nếu có thì cũng kém hơn.
Dù cách đây chưa đầy một trăm năm dân số Hanoi chỉ có vài chục vạn người, và sau năm 1954 lại thêm rất nhiều người đã bỏ xứ ra đi, mà bây giờ dân số Hanoi đã tăng lên thêm hàng chục lần, đủ để biết lượng người mới từ các nơi chuyển về Hanoi lớn thế nào, thì Hanoi vẫn luôn luôn là của chỉ riêng người Hanoi.
Người Hanoi luôn có một niềm tự hào kín đáo về đẳng cấp hơn người của mình so với những người đến từ nơi khác. Hanoi 2, đó là từ của những người ở foco gọi những người không sống trong foco. Hanoi 2 cũng là cách mà người nội thành gọi người sống ở ngoại thành, hay người Hanoi cũ gọi người Hanoi mới – những người Hatay khi trển sáp nhập xứ Đoài mây trắng về với Đông đô ngàn năm văn hiến.
Hẳn nhiên, sự phân biệt đầy chất kiêu hãnh này không đơn thuần chỉ là để cho vui, và không phải là nó không hề gây ra một chút mặc cảm nào cho những người chưa đủ tự tin để xem mình là một người Hanoi.

Hanoi và Saigon đều có lượng người nhập cư rất lớn đổ về. Cụ thể, năm 1954 dân số Saigon khoảng 2 triệu, Hanoi khoảng nửa triệu, nhưng đến năm 2016 dân số Saigon đã tăng lên khoảng 8,5 triệu (hơn 4 lần), còn Hanoi khoảng 7,5 triệu (khoảng 15 lần).
Vậy nhưng tại sao khi nói đến Saigon là người ta nghĩ đến thành phố chung của những người nhập cư, trong khi Hanoi với tỷ lệ lẫn số lượng người nhập cư đều lớn hơn thì lại vẫn là một thành phố của riêng người Hanoi rất đỗi tự hào?

Sự khác biệt giữa Hanoi và Saigon có thể giải thích một cách rất trần tục là bởi lý do người ta đến Hanoi khác với đến Saigon. Đa phần người ta đến sống ở Saigon là để làm ăn, và đến sống ở Hanoi là để làm quan. Người làm ăn hẳn nhiên là rất khác với người làm quan, và vì thế môi trường sống mà họ góp phần tạo ra cũng khác hẳn nhau.
Tuy nhiên còn có thể giải thích sự khác biệt này một cách khác, mang tính tâm linh, triết lý và học thuật hơn nhiều. Đó là vì Hanoi có hồn cốt, còn Saigon thì không.
Vậy honcot là gì?

Honcot hẳn nhiên không phải là một dạng vật chất cụ thể nào. Không có một nhà máy, hay đơn vị kinh tế, hay hộ gia đình nào sản xuất kinh doanh honcot, và cũng chưa có ai nhìn thấy hay sờ thấy honcot cả. Honcot là một khái niệm tinh thần, là một di sản phi vật thể có một giá trị và sức mạnh vô cùng lonlao. Để hiểu rõ về honcot, tốt nhất là tìm hiểu về những gì đã tạo nên nó.

Cái đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên honcot Hanoi là sức nặng của bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến. Một lịch sử được xác định không phải chỉ bằng những văn bản giấy tờ mà bằng cả những công trình xây dựng vĩ đại còn lại cho đến ngày nay.

Công trình đầu tiên phải kể đến là Tháp Rùa. Ngọn tháp cổ kính này được đích thân vua Lê phát lệnh khởi công vào tháng 1 năm 886. Đây là hạng mục chính trong một quần thể lớn được xây dựng để nghiên cứu, giảng dạy và cứu hộ rùa Hồ Gươm, một loại rùa linh thiêng, con cháu trực hệ của thần Kim quy. Dù sau này bị chiến tranh tàn phá hết, chỉ còn sót lại mỗi Tháp Rùa, trung tâm này cũng đã kịp đào tạo hàng ngàn tiến sĩ, giáo sư chuyên ngành Rùa học, đóng góp rất nhiều vào đội ngũ trí thức nước nhà. Tháp Rùa đã trở thành biểu tượng linh thiêng không thể thiếu của Hanoi văn hiến ngàn năm. Không những thế, phần dưới của tháp còn trở thành một hình mẫu tiêu biểu của kiến trúc phương tây, còn phần trên thì sau này lại được các chùa chiền phương bắc học tập.

Công trình vĩ đại tiếp theo là tổ hợp Văn Miếu – Quốc tử giám Hanoi. Được xây dựng từ năm 1070 đến năm 1076, đây là trường đại học chính quy đầu tiên của cả nước. Trường có nhiều khoa, trải rộng trên một vùng rộng lớn. Như khoa Văn nằm từ hồ Văn kéo dài qua ngõ Văn Chương, khoa Âm nhạc dân tộc nằm ở vị trí Nhạc viện hiện nay, khoa Quân sự thì nằm quanh hồ Giảng võ, khoa Mác – Lê nằm gần khu vực Khâm thiên v.v …
Trải qua bao năm binh lửa tàn phá, ngày nay trường đại học này chỉ còn sót lại phòng truyền thống, nơi trưng bày hàng trăm tấm bia tiến sĩ và nhà tưởng niệm, nơi thờ vị hiệu trưởng danh dự của trường. Nhưng chỉ cần nhìn vào những gì còn lại, người ta có thể dễ dàng hình dung được quy mô vĩ đại vốn có của công trình.

Một công trình độc đáo khác có thể kể tới để minh chứng cho nền văn hiến ngàn năm của Hanoi là chùa Một cột. Được xây dựng vào năm 1049, giá trị của ngôi chùa này là ở kiến trúc độc đáo chứ không nằm ở quy mô. Kiến trúc độc đáo của ngôi chùa này lấy cảm hứng từ hoa sen, một loài hoa quý mang tính triết lý rất cao của dân tộc. Ngôi chùa này đã nhận được vô số giải thưởng các loại, từ cổ chí kim, nhiều đến nỗi phải có riêng một nhà bảo tàng ở bên cạnh để chứa. Nhà bảo tàng này, cũng chung số phận với nhiều công trình đặc sắc khác của Hanoi, đã bị phá hủy bởi chiến tranh. Quy mô của ngôi chùa nằm bên ao sen này, xưa kia kéo dài đến tận phố Liên trì, nay chỉ còn lại một phần nhỏ. Dù vậy, đây vẫn là một minh chứng cho sự linh kiệt cùng quá khứ huy hoàng của thủ đô ngàn năm văn hiến.

Góp phần tạo nên honcot Hanoi không chỉ có những giá trị xưa, mà còn cả những giá trị hiện đại, ví dụ văn hóa ẩm thực. Hanoi đã nổi tiếng từ lâu về những món ăn ngon cùng với cách thưởng thức tinh tế, sang trọng. Ngày nay, bên cạnh những đặc sản xưa như bún thang, bún ốc, hay phở bò, phở gà, Hanoi đã có thêm những món đặc sản khác chẳng nơi nào có được, như bún chửi, phở chen v.v …

Một yếu tố nữa tạo nên honcot Hanoi không thể không kể tới, đó là cây. Không phải là những loại cây mà người dân Hanoi vẫn hàng ngày đóng đinh vào để treo cái này cái khác, hoặc ngấm ngầm đổ chất độc cho cây chết dần để thông thoáng vỉa hè trước mặt. Đó có thể là cây hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố, hay là cây cơm nguội vàng hoặc cây bàng lá đỏ, nhưng đặc biệt nhất và không thể thiếu được là cây xacu. Những rừng cây xacu cổ thụ hàng trăm năm tuổi từ ngàn xưa đã chở che, ôm ấp Hanoi, làm cho Hanoi dâm mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông. Có thể nói, nếu không có xacu, bộ mặt của Hanoi sẽ trở nên xấu đi rất nhiều, cũng như sẽ không có một honcot Hanoi hoàn hảo và giàu sức sống như hiện nay.

Tuy nhiên những yếu tố trên, cùng với một số yếu tố khác nữa, vẫn chưa đủ để tạo nên honcot Hanoi nếu không có bàn tay và khối óc lẫn con tim của các triết gia, khoa học gia, nghệ sĩ gia, ảo thuật gia, phi hành gia … cùng nhau chỉnh sửa, uốn nắn để cho ra sản phẩm cuối cùng.
Và cũng phải kể đến sự thấu cảm của người Hanoi trước những nỗi niềm hoang hoải của các gia kể trên, sự thấu cảm này đã ánh xạ trở lại lên từng bức tường, từng góc phố, từng thân cây của Hanoi.
Và tất cả những tiến trình tác động phức hợp qua lại ấy đã tạo nên honcot Hanoi.

Thật ra, honcot không phải chỉ riêng Hanoi mới có, mà cả nước đều có nhưng ở một mức độ khác, dưới một cái tên khác. Nó làm cho người Việt cảm thấy tự hào tự cao vì mình luôn luôn hơn người, từ cái xuất thân con zồng cháu tiên cho tới những phẩm chất luôn là số một khác, như thongminh nhất quả đất, cancu nhất quả đất, dungcam nhất quả đất, v.v … nhất quả đất. Trong khi thật sự vị thế của người Việt đang thấp gần như nhất quả đất.
Nhưng đó là một câu chuyện khác.

Tháng 6/2017.