Gallery

Quốc món

Nói đến món ăn Việt tiêu biểu, chắc ai cũng nghĩ đến phở, giống như khi nói đến y phục Việt thì người ta nghĩ ngay đến áo dài.

Áo dài ra đời tại Hanoi vào khoảng đầu những năm 1930, mà công đầu thuộc về họa sĩ Cát Tường và Lê Phổ, và được cho là sự tiếp nối của chiếc áo tứ thân (nhưng đồng thời cũng rất giống với chiếc sường sám Thượng hải). Tuy nhiên khác với áo dài, nguồn gốc của phở cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Chỉ có thể chắc một điều rằng, tuy đã từng được rất nhiều các nhà văn cây đa cây đề thời đầu tây học ca ngợi, nhưng nó không phải là một món ăn Việt có từ thời xa xưa mà chỉ mới xuất hiện khoảng đầu thế kỷ trước, cũng giống như áo dài.

Món ăn phổ biến hơn và mang tính Việt nhiều hơn, ít nhất là khi so với phở, chính là bún.

Ít ra thì đã từng có một câu đồng dao, không rõ có vào thời nào nhưng chắc không muộn hơn năm phở ra đời:

“Nhận vở nhận vơ, lấy vợ thằng nhân

Ăn bát canh bún, nó vần cả đêm”.

Và ít ra trong băm sáu phố phường của Hanoi, có một phố Hàng Bún mà không có phố Hàng Phở.

Trong ký ức của tôi, một cậu bé nửa quê nửa tỉnh, hồi còn bé không có một ấn tượng nào gợi nhớ đến phở ngoài mấy cửa hàng ăn uống bán phở mậu dịch hay mì mậu dịch gì đó, một bát mì (hay phở?) kèm thịt có giá 4 hào, còn không thịt – còn gọi là mì không người lái – có giá 2 hào, mua không cần tem phiếu.

Trong trí nhớ của tôi về ngày ấy, chỉ có bún.

Nhớ những gánh hàng bún riêu trong chợ với các bà các chị xúm xít ngồi quanh, mỗi lần đi qua gặp lúc bà bán hàng mở vung nồi ra là một vầng hơi nước kèm theo mùi canh riêu cua tỏa ra thơm lừng. Hoặc đôi khi đi qua hàng bún chả lại tranh thủ hít căng ngực làn khói xanh xanh từ cái bếp than tỏa ra mù mịt một góc chợ, mang theo mùi thơm đầy quyến rũ.

Liên quan đến bún, có hai thứ ngày nay hình như đã gần tuyệt chủng.

Cái thứ nhất, đó là cái bát chiết yêu. Cách đây mấy chục năm, loại bát này còn được dùng rất phổ biến, nhất là các gánh bán bún rong. Cái bát chỉ nhỏ như bát ăn cơm, nửa trên miệng loe rộng như cánh lá sen, được làm từ sứ và men xấu, trông rất dân dã. Người ăn, nhất là các bà các chị, không dùng thìa mà chỉ dùng mỗi đôi đũa, vừa ăn vừa húp rất vui tai. Tất nhiên là không chỉ các gánh bún, mà trước đây ở các gia đình mỗi khi có cỗ bàn người ta cũng hay dùng loại bát này để bày các món canh. Có lẽ vì nó nhỏ không đựng được bao nhiêu nên bây giờ các loại tô lớn đã dần dần thay thế cho nó.

Và cái thứ hai, rất ngạc nhiên, lại chính là bún.

Mặc dù ngày nay bún vẫn rất phổ biến và được mọi người dùng đến hàng ngày, với rất nhiều món, nhưng cái chính là bún thì lại không hẳn là bún. Ngày xưa, bún được làm từ bột đã được ủ chua. Gạo được ngâm, xay thành bột rồi ủ mấy ngày cho lên men, sau đó mới đem ra làm bún. Thời đó không ai lạ với từ “đổi bún”, các gia đình muốn ăn bún có thể ra chợ mua bún về, hoặc mang gạo đến các lò bún đổi lấy bún theo tỷ lệ 1 ký gạo 2 ký bún. Bún hồi đó hơi chua, rất mềm, “mềm như bún” và khi để lâu thì nó khô quắt lại như sợi chỉ. Còn ngày nay, hình như để tiết kiệm thời gian nên người ta đã bỏ qua giai đoạn ủ men và loại bún vẫn đang dùng bây giờ phần lớn chỉ là sợi bột gạo luộc.

Dưng nói gì thì nói, bún vẫn dễ ăn hơn phở vì nó ít gây ra cảm giác ngấy. Nhất là vào những dịp tết nhất như thế này.

batchietyeu

(Một kiểu bát chiết yêu. Ảnh siu tầm trên in tơ lét)

 

 Tháng 2/2016

 

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s