Gallery

Quê ta là gì?

Hay đúng hơn, quê ta được xếp vào, hay tự nhận vào loại hình nào, một nước nông nghiệp, một nước công nghiệp, hay là một nước gì đó?

Hẳn nhiên, quê ta còn lâu mới là một nước công nghiệp, dù các nghị quyết của đảng, từ cái này sang cái khác, từ năm này sang năm khác, trong suốt mấy chục năm qua đều khẳng định mục tiêu của quê ta là công nghiệp hóa, hiện đại hóa v.v… Các dẫn chứng để khẳng định quê ta không phải là một nước công nghiệp thì vô vàn, ngay cả khi dùng chính những con số vẫn được dùng để chứng tỏ sự phát triển trong lĩnh vực công nghiệp ở những bản báo cáo thành tích của đảng tại những kỳ đại hội. Nhưng giản dị nhất và trực quan nhất, đó là nhìn vào sản phẩm của nền công nghiệp ấy tạo ra và những người công nhân – được phong lên là giai cấp lãnh đạo xã hội – trong nền công nghiệp ấy, thay vì nhìn vào những khẩu hiệu, những bản tụng ca hay ma trận của những định hướng, những chính sách phát triển công nghiệp chồng chéo và hay thay đổi.

Quả thực việc tìm ra một sản phẩm của nền công nghiệp VN bây giờ là một điều nan giải, nhất là những sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao, nghĩa là có lợi nhuận cao. Ngoại trừ công nghiệp khai khoáng và sản xuất VLXD tương đối phát triển ở quy mô nhưng rất lạc hậu về công nghệ, và là những ngành công nghiệp thô sơ và gây ô nhiễm môi trường nặng nề, và ngoại trừ ngành chế biến thực phẩm với một số nhà máy không đòi hỏi công nghệ cao và chi phí đầu tư lớn, còn lại các ngành công nghiệp khác đều ở mức độ gia công, làm thuê và thiếu hẳn những ngành công nghiệp cơ bản. Bởi thế không có gì là lạ khi ở VN nhìn đâu cũng chỉ thấy hàng công nghiệp ngoại nhập – đúng hơn là hàng nhập từ TQ. Hàng công nghiệp của VN, nếu không kể tới những sản phẩm nhập linh kiện TQ về để lắp ráp và dán nhãn hàng VN, thì chỉ còn lại mặt hàng thực phẩm chế biến. Một quốc gia sở hữu nền công nghiệp què quặt thể hiện rõ tính chất cò con, ăn đong, chụp giật hớt váng như vậy, hiển nhiên không thể gọi là một nước công nghiệp.

Đó là xét về sản phẩm công nghiệp. Còn về đội ngũ công nhân thì cũng không có gì đáng lạc quan hơn. Giai cấp công nhân – giai cấp lãnh đạo xã hội, như đảng nói – là một giai cấp trong thực tế từ xưa tới nay chưa bao giờ đủ tầm về số lượng lẫn chất lượng để trở thành một giai cấp, và cho đến bây giờ càng phát triển theo hướng tụt lùi. Con số ít ỏi những công nhân bậc cao, có trình độ, lương tâm nghề nghiệp và học vấn cao ngày xưa đã rơi rụng dần theo thời gian, và nền giáo dục trọng thầy hơn trọng thợ, đào tạo thầy nhiều hơn thợ ở quê ta không bù đắp nổi con số hao hụt đó. Thêm nữa, một nền công nghiệp mất cơ bản, nặng về gia công lắp ráp chỉ đòi hỏi những lao động phổ thông đã tạo ra một tầng lớp công nhân kiểu mới, từ nông thôn tiến thẳng vào các khu công nghiệp, với một chân vẫn chưa rút hẳn ra khỏi ruộng đồng. Họ chỉ có cái vỏ bên ngoài là công nhân vì họ làm việc trong các công xưởng và sống chen chúc trong các nhà trọ tồi tàn theo kiểu những công nhân thời kỳ tư bản sơ khai  ngày xưa, còn ngoài ra họ vẫn còn nguyên cách nghĩ, thói quen, nếp sống từ các vùng quê được họ mang theo. Không ai quan tâm đến việc tổ chức, giáo dục, đào tạo, dẫn dắt họ để trở thành những người công nhân thật sự, có đủ kỹ năng, kỷ luật và thái độ chuyên nghiệp cần phải có. Những tổ chức vốn dĩ sinh ra để làm những việc ấy, như công đoàn, các hội đoàn, hội nghề nghiệp v.v… hiện giờ đều do đảng – đội tiên phong tự xưng của họ – lãnh đạo, và chúng còn đang bận rộn với rất nhiều việc khác của đảng và của bản thân chúng hơn là quan tâm đến những người công nhân.

Không phải là một nước công nghiệp, vậy quê ta có phải là một nước nông nghiêp?

Nếu căn cứ vào truyền thống văn minh lúa nước của dân tộc và tâm lý tiểu nông in sâu trong tâm thức, thể hiện qua lối làm ăn manh mún, cò con, cách sống xuê xoa đầy tính ngẫu hứng, duy tình, thói quen ham vui, ham hội hè của người Việt thì có thể nghĩ rằng quê ta là một nước nông nghiệp. Nhưng ngoài những cái đó ra thì chẳng có gì để gọi quê ta là một nước nông nghiệp.

Trước hết nói về chính sách nông nghiệp.

Theo các văn kiện, các chủ trương, các đường lối v.v… trong đó cái gì cũng được ưu tiên, cái gì cũng là then chốt, cũng là mũi nhọn thì nông nghiệp, cũng như công nghiệp, cũng như KHKT vươn vươn đã được quan tâm, chỉ đạo, phát triển. Nhưng trên thực tế, cũng như với công nghiệp, các chính sách chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau và thay đổi xoành xoạch chưa bao giờ có tác dụng thiết thực, tích cực cho nông nghiệp, ngoại trừ một số rất ít chính sách như khoán 10, khoán 100 được ca ngợi như là những thành tựu của đảng – mà trên thực tế nó là sự thụt lùi trong tiến trình thực hành cnxh. Giống như trước đây Lenin đã từng phải có bước lùi khi đưa ra NEP để cứu vãn nền kinh tế Nga bị suy sụp vì những chính sách kinh tế lẫn chính trị không giống ai của những người chiến sĩ cách mạng thời đó, những thành tựu đó thực ra là sự nới lỏng những trói buộc đặt ra bởi những lý luận của đảng. Việc đất nông nghiệp bị bỏ hoang ngày càng nhiều ỏ miền Bắc và miền Trung hiện nay, đẩy vô số nông dân thất nghiệp mất đất về các thành phố đương nhiên không thể quy trách nhiệm cho ai ngoài những chính sách, trong đó có chính sách nông nghiệp.

Ở tầm thấp hơn, và cũng thiết thực hơn, đó là sự trợ giúp cho nông nghiệp. Các viện khoa học ở quê ta rất nhiều, và rất nhiều trong số đó là chuyên về nông nghiệp. Và đặc điểm chung của các viện này hình như là sinh ra để cho có. Rất ít thấy các viện này có vai trò gì, và trong nông nghiệp cũng vậy. Không thấy có nghiên cứu khoa học nào đáng giá về tiềm năng quy hoạch vùng nguyên liệu, hay dự báo xu hướng thị trường để từ đó người nông dân có thể biết được ở đâu, khi nào thì nên trồng cây gì hay nuôi con gì cho phù hợp. Rất ít có những tài liệu khoa học để người làm nông nghiệp có thể dựa vào đó xử lý các rủi ro phái sinh, như dịch bệnh thiên tai, hay làm cách nào để tăng năng suất v.v… Việc để người nông dân phải tự mày mò sáng chế ra những máy móc phục vụ nông nghiệp, hay tìm ra những bí quyết thay đổi cả bộ mặt của một lĩnh vực sản xuất, như việc vô tình tìm ra cách dùng đèn chiếu sáng để tăng sản lượng của thanh long ở vùng Nam Trung bộ, hay việc tạo ra các giống ăn quả mới ở miền Tây đã cho thấy vị thế thảm hại của các viện khoa học.

Rồi đến ngành sản xuất máy nông nghiệp và các sản phẩm phụ trợ như thuốc BVTV, phân bón v.v…, một phần không thể thiếu cho một nước nông nghiệp, nhưng là một ngành hầu như vắng bóng trên quê ta, nếu căn cứ vào sản phẩm có mặt trên thị trường. Hiện nay, ngoài số máy móc vẫn đang được dùng trong nông nghiệp do các nông dân tự chế ra thì việc cung cấp số máy còn lại đã mặc nhiên chỉ do những nhà buôn bán đảm nhiệm theo tiêu chí lợi nhuận của họ chứ không phải là của người nông dân, là trên hết, với đa phần là máy móc nhập từ TQ qua đường tiểu ngạch. Và phần còn lại là những dụng cụ thô sơ, đã có từ hàng ngàn năm trước. Còn phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh cho cây trông vật nuôi … hầu như chỉ có hàng ngoại nhập.

Tiếp đến là việc lưu trữ, bảo quản, chế biến sau thu hoạch. Cũng như ngành sản xuất máy nông nghiệp, ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm là một ngành kèm theo không thể thiếu của một nước nông nghiệp, bởi hiển nhiên là nếu không được bảo quản, chế biến đúng cách thì nông sản sẽ bị hao hụt rất nhiều, do hư hỏng, do chuột bọ, côn trùng, v.v… Chưa kể sự liên kết giữa những nhà máy CBNS và người nông dân sẽ tạo ra những vùng nguyên liệu, có tác dụng tương hỗ lẫn nhau để cùng phát triển. Vậy nhưng trên quê ta, giống như ngành CKNN, ngành CBNS cũng vắng bóng. Trừ một vài nhà máy sản xuất mít sấy, khoai sấy hay một vài thứ sấy khác không có bao nhiêu tác động tới SXNN, và những nhà máy đường mà tác động tích cực của nó tới đời sống nông dân vùng nguyên liệu vẫn là những dấu hỏi, thì hiện nay tất cả mọi việc, từ làm ra cho đến sơ chế, bảo quản nông sản sau thu hoạch đều đặt lên vai người nông dân.

Sự trợ giúp nữa, có ảnh hưởng lớn đến người nông dân, phải kể đến hệ thống lưu thông phân phối. Ở quê ta đã có khá nhiều đại gia giàu lên từ thu mua và kinh doanh nông sản, nhưng phần nhiều lợi nhuận họ thu được là từ những hoạt động đầu cơ, ép giá người nông dân chứ không phải là trong mối quan hệ có đi có lại, làm lợi cho nhau. Cuộc sống chật vật của số đông người nông dân, chênh lệch khủng giữa giá mua nông sản với giá bán cho người tiêu dùng (cũng có nghĩa là phần lớn lợi nhận rơi vào hệ thống phân phối), đã cho thấy sự cần thiết phải có một hệ thống phân phối gắn với lợi ích của người nông dân. Hệ thống phân phối này, cùng với một hệ thống kho chứa có quy mô phù hợp, sẽ giải quyết được điệp khúc được giá thì mất mùa, được mùa thì rớt giá, tạo điều kiện cho cuộc sống của người nông dân được nâng lên tương xứng với công sức của họ bỏ ra, và từ đó cũng là để cho nền nông nghiệp phát triển. Nhưng ở quê ta hệ thống này chưa từng tồn tại, thậm chí chỉ là ở dạng ý tưởng, và việc người nông dân bị chèn ép từ mọi phía, phải chịu thua thiệt đủ bề hẳn nhiên không phải là một dấu hiệu chứng tỏ quê ta là một nước nông nghiệp.

Và cuối cùng là sản phẩm nông nghiệp. Một nước nông nghiệp đương nhiên phải dựa vào sản phẩm nông nghiệp và chăm lo đến sản phẩm nông nghiệp. Ngoài việc xuất khẩu gạo và một vài sản phẩm khác được sản xuất theo kiểu nặng về tính phong trào và thu mua theo kiểu tranh mua tranh bán, hầu như không ai có khái niệm tạo ra thương hiệu hay ý định làm chủ thị trường, thì quê ta lại là một nước nhập khẩu khá nhiều nông sản, ngay đến cả giống lúa cũng phải nhập từ TQ. Các loại rau quả từ Thái lan, TQ đang dần dần đánh giạt các sản phẩm VN ra khỏi các chợ lớn và siêu thị. Ngô, đậu tương, bông, thịt, sữa v.v… vẫn được VN nhập khẩu từ các nước, trong đó có cả Mỹ, với khối lượng lớn để làm nguyên liệu đầu vào, và các sản phẩm được sản xuất ở VN thường có thêm dòng chữ “Nguyên liệu ngoại nhập” như một cách khẳng định chất lượng và đẳng cấp. Có cảm giác như cái ngày người dân quê ta không còn dùng đến nông sản Việt sẽ không còn xa, và ngạc nhiên nhất là hình như không ai thấy điều đó có gì bất thường.

Tóm lại là dù có vẻ như các lít đờ quê ta, vì những lý do nào đó, đã rất không ưa việc quê ta là một nước nông nghiệp mà chỉ thích được trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, nhưng rõ ràng với thực trạng nền công nghiệp yếu kém, què quặt, nền nông nghiệp lạc hậu, manh mún hiện nay và có lẽ là cả sau này, trong một tương lai xa (vì chưa có một nhân tố dẫn tới thay đổi nào xuất hiện hay có thể hình thành trong một thời gian dài sắp tới), thì quê ta hẳn nhiên không phải là một nước công nghiệp, thậm chí còn xa mới đủ điều kiện để trở thành một nước nông nghiệp.

Vậy có thể xếp loại quê ta vào đâu, nếu không phải là một nước công nghiệp, mà cũng không phải là một nước nông nghiệp? Câu trả lời: quê ta là một nước xhcn. Và nếu vẫn còn do đảng lãnh đạo, thì có thể hy vọng rằng đến cuối thế kỷ này quê ta sẽ xây dựng thành công cnxn.

Tháng 5/2015

6 responses to “Quê ta là gì?

  1. Cua ơi, em sửa chỗ này nhé:
    Không phải là một nước công nghiệp, vậy quê ta có phải là một nước nông nghiêp?

  2. Còn 5 năm nữa thì quê ta sẽ thành một khu tự trị như Tân Cương, Tây Tạng… không cần chờ đến cuối thế kỷ này đâu em ạ.
    À, sao em lại khóa còm của chị vậy?

    • Em có khóa khiếc gì đâu, tại chị đổi địa chỉ email đấy chứ.
      Còn chuyện thành khu tự trị thì em nghĩ tàu nó có cái vòng kim cô rồi, cần cái gì thì nó niệm thần chú là sẽ có được ngay cái đó, việc gì nó phải ôm thêm 90 triệu cái tàu há mồm vào làm gì cho rặm cái bụng nó.

  3. Bác Cua ơi, bác Trịnh Hâm nhờ em hỏi sao bác ấy lại bị khóa còm? Bác Cua duyệt còm nhé, hihi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s