Gallery

Truyền thống

“Truyền thống của dân tộc” là một cụm từ quen thuộc mỗi khi người ta cần đến để bảo vệ một nếp cũ trước đòi hỏi hoặc sức ép của cái mới. Quen đến mức nhiều khi không mấy ai tự hỏi những cái truyền thống ấy có từ bao giờ, có thực là truyền thống của các cụ xưa (xưa nghĩa là đã có từ ít nhất dăm bảy trăm năm trước) hay không?

Đúng ra thì cũng phải công nhận một điều rằng giải đáp trọn vẹn câu hỏi trên là một điều cực kỳ khó khăn, bởi nguồn sử liệu có tính khoa học, khách quan và xác thực ở quê ta vốn đã rất hiếm, lại cộng thêm quá trình định hướngxử lý kỹ lưỡng dưới ánh sáng khoa học của CN xyz trong suốt một thời gian dài, nên bây giờ gần như phần lớn người ở quê ta chỉ nhìn thấy cái mà các lít đờ muốn cho thấy. Tuy nhiên, nếu để ý một chút thì vẫn có thể thấy một vài trường hợp đáng suy nghĩ.

Đầu tiên, và rõ nhất, là chuyện về ngày giỗ tổ. Đó là một ngày dù mới trở nên thiêng liêng trong thời gian gần đây, thì cũng vẫn là một chất kết dính tuyệt vời mọi người dân vào khối ĐĐK DT, được thể hiện qua câu ca dao mà ai cũng nghĩ rằng đã có từ thời rất xa xưa:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba”.

Mặc dù ai cũng cảm thấy tiếng Tổ thật là thiêng liêng mà gần gũi, thế nhưng có  mấy ai tự đặt ra và trả lời được những câu hỏi: Vậy ngày giỗ Tổ đó là ngày mất của ai, hay ông Tổ là ai? Là Lạc Long Quân, hay Kinh Dương Vương? Hay vua Hùng? Nếu là vua Hùng thì là vua Hùng thứ mấy, tên là gì?

Và đây mới là điều đáng nói nhất về lễ giỗ Tổ:

Theo tấm “Hùng miếu điển lệ bi” do Hội đồng Kỷ niệm tỉnh Phú Thọ lập năm Khải Định thứ 8 (1923) thì “Xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có miếu lăng phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm, cả nước đến tế, thường lấy kì mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày Mười Một tháng Ba, kết hợp với thờ thổ kỳ, làm lễ riêng… (Sự thể này dẫn tới chỗ) thường hứng bất kì, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì bị kém đi… (Vì thế) cẩn thận định lại rằng, từ nay về sau, lấy ngày mồng Mười tháng Ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…”

Phần thứ hai của văn bia “Hùng miếu điển lệ bi” dành cho việc quy định “Đệ niên kỉ niệm hội nhật lễ nghi” (Nghi lễ ngày hội kỷ niệm hằng năm) với những câu như sau: “Nay phụng mệnh theo Bộ Lễ, chuẩn định ngày quốc tế tại miếu Tổ Hùng Vương là ngày mồng Mười tháng Ba. Chiều ngày mồng Chín tháng Ba hằng năm, các quan liệt hiến trong tỉnh, cùng các quan viên trong cả phủ huyện của tỉnh, đều phải mặc phẩm phục, tề tựu túc trực tại nhà công quán. Sáng hôm sau, tới miếu kính tế…”

Như vậy, trước đây Lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương được chọn nhật kỳ tiến hành vào mùa thu, là mùa tổ chức các lễ hội có lịch sử cổ xưa hơn các lễ hội mùa xuân. Đến năm 1917 mới có quy định chính thức của triều Nguyễn (đời vua Khải Định) lấy ngày mồng Mười tháng Ba hàng năm làm ngày “quốc tế” (Quốc lễ, quốc giỗ). Điều này được tấm bia Hùng Vương từ khảo do tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) cũng đang đặt ở Đền Thượng trên núi Hùng, xác nhận: “Trước đây, ngày quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ (là) Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ”

(theo: http://www.qtttc.edu.vn/vi/tintucsukien/vanhoavannghethethao/810-gioi-thieu-ve-lich-su-ngay-gio-to-hung-vuong)

Tiếp đến là chiếc áo dài, vốn được coi là chiếc áo truyền thống mang đậm hồn dân tộc, và cũng mang theo nhiều mỹ từ, cũng như nhiều sứ mệnh khác. Chiếc áo này có rất nhiều nét giống với chiếc áo sườn xám của người Trung quốc, và được cho là khởi nguồn từ áo tứ thân, áo ngũ thân của người Việt. Dù đã trở nên rất phổ biến đến mức được gọi là áo truyền thống của dân tộc, và còn được dự định chọn làm quốc phục, nhưng rất dễ để  biết (mà lại ít người để ý) rằng áo dài mới chỉ ra đời vào năm 1930 với cái tên Áo dài Le Mur do họa sĩ Cát Tường sáng tác và sau đó được họa sĩ Lê Phổ sửa lại vào năm 1934, và đã trải qua vài lần thay đổi lớn, chủ yếu ở miền Nam vào những năm đầu thập kỷ 60’s, trước khi có hình hài như ngày nay. Một chi tiết thêm nữa: năm 1947 còn có một cuộc vận động người dân (hình như là ở vùng do Việt Minh kiểm soát) bỏ thói quen mặc áo dài để thay bằng áo ngắn vì mặc áo dài “đi đứng, làm việc bất tiện” và sau này, với nguyên nhân chính từ chế độ tem phiếu mà theo đó mỗi người chỉ được mua 4m hoặc 5m vải các loại trong 1 năm, thì ở miền Bắc đã vắng bóng áo dài cho mãi tới tận thời kỳ cách đây chưa lâu.

(Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%81o_d%C3%A0i)

Còn về dân ca và nhạc cổ truyền?  Có lẽ không mấy người để ý rằng Cải lương, một loại hình ca hát cực kỳ phổ biến ở miền Nam, lại chỉ mới hình thành vào khoảng đầu những năm 1920. Và trong số các khán giả yêu thích dân ca và nhạc cổ truyền, không có mấy người có thể phân biệt được đâu là sự khác biệt giữa một bên là Tuồng – một loại hình nghệ thuật khác cũng được cho là cổ truyền dân tộc, với một bên là Kinh kịch của Trung quốc.

Đây mới chỉ là vài ví dụ dễ thấy nhất, ở những vị trí nổi bật nhất có thể làm cho những ai nhìn thấy phải suy nghĩ về một cái tổ hợp mù mờ có tên là “Truyền thống của dân tộc”. Nếu có thời gian và sự quan tâm hơn, chắc hẳn còn nhiều cái trước đây vẫn được mặc định là cổ truyền dân tộc sẽ phải nhìn nhận lại.

Vấn đề đáng nói là liệu có chuyện người ta cố tình tạo ra sự lập lờ của những “truyền thống dân tộc” hay không, và nếu có thì ngoài mục tiêu cố bảo vệ một cái cũ trước đòi hỏi hoặc sức ép thay đổi của cái mới, người ta còn có mục đích nào nữa không?

Và dù thế nào, thì mỗi người cũng nên tận dụng mọi cơ hội có thể có để tự tìm hiểu một cách có căn cứ, có chủ kiến về những điều trước đây thường vẫn được mặc định là thế này hay thế khác, do một vài ai đó rất thích nghĩ hộ và nhét vào đầu mọi người những ý nghĩ ấy, sáng tạo ra.

Tháng 1/2014

10 responses to “Truyền thống

  1. Nơi thiên đàng, ” chiềng thống ” là sản phẩm của sự định hướng hê hê… đéo có phương hướng cho cái thằng có tên ” Ý Thức Hệ ”
    Có phỏng bác Cua?

  2. Tui cũng đồng ý dí anh Cua nhưng muốn nói thêm vài điều. Thực ra áo dài không hoàn toàn do ông Cát Tường sáng tác mà phóng tác dựa trên nền áo cũ. Anh so sánh với sườn sám TQ mà không lưu ý là Sườn sám có trước hay sau áo dài hay áo tứ thân, hơn nữa đặc điểm chung của trang phục nữ kể cả trên thế giới thì khổ vải mà người ta có thể dệt được càng rộng thì quần áo ngày càng ngắn lên. Ngày xưa, phụ nữ dân tộc nào cũng mặc dài lòn thòn. Còn về tuồng cổ thì có nhiều loại. Cái tuồng mà anh nói giống Kinh kịch TQ có lẽ là tuồng hát bội, tuồng Hồ Quảng thì khá giống còn tuồng cải lương thì hoàn toàn không. Tui ham coi tuồng nên biết bi nhiêu đó, để tui hỏi Đậu thim nha.

    • Chaubacbaphi: theo viki thì áo sườn xám Thượng Hải hiện đại cũng ra đời trong khoảng thờ gian xêm xêm với áo dài, nhưng tính liên tục từ áo cổ truyền của nó có vẻ thuyết phục hơn so với áo dài tiếp nối từ áo ngũ thân. Vả chăng trong 2 khả năng: Thượng Hải cóp bi ông Cát Tường và ông Cát Tường lấy cảm hứng từ T.H, anh nghiêng về 2.
      Còn tuồng là tên Bắc của món hát bội đó, người Bắc không gọi “tuồng cải lương” bâu giờ, vì tuồng là tuồng, cải lương là cải lương 🙂

  3. Câu chuyện về giỗ Tổ: Thực ra đền Hùng là do một bà buôn có tâm đức bỏ tiền ra xây dựng, không lâu hơn triều hậu Lê. Trước đó không thấy nhắc tới. Ngày giỗ thì biến đổi rất nhiều, nhưng cũng thường gắn với tế thu rồi tế xuân. Hai lễ tế ở đình làng này chủ yếu cũng là vọng ngưỡng về anh linh tổ tiên, sơn thần thủy thần, thành hoàng bản thổ,…
    Câu chuyện về áo dài không mới, mà có cả trên trống đồng, tượng đá cổ xưa. Áo tứ thân thì mới được biến cách từ thời sau này từ áo Mường, có thắt lưng hoa hiên.
    Câu chuyện về tuồng, cải lương thực ra đều vay mượn, biến chế trên nền cổ nhạc và theo tình tự dân tộc.
    Nói là truyền thống, thì phải truyền theo thống. Bảo chiêng cồng là âm nhạc truyền thống của người Tây nguyên, nhưng có ai biết cồng chiêng sản xuất ra sao, ở đâu ngoài vài làng Quảng Nam.
    Truyền thống của ta trước nhất là ăn cơm, không phải cháo, bún, phở, bánh mì,… Lễ tế thì nhất thiết là rượu gạo, chẳng ai dâng cúng rượu tây, bia,… Không có nước mắm thì cá mặn, cá khô. Mặc thì vấn khố, tà lỏong, yếm,…
    Nói chung các thứ nào không gắn với nền sản xuất và sinh hoạt thường ngày thì rất xa truyền thống.

    • “Truyền thống của ta trước nhất là ăn cơm, không phải cháo, bún, phở, bánh mì, “.
      Bác nói thế thì em “tự hào mấy món phở, bánh mì kẹp thịt mang đậm hồn Việt” làm sao được?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s