Bộ sưu tập

Những công chúa không nổi danh

Phụ nữ VN, bỏ qua những lời xưng tụng hoa mỹ dù là chân tình hay đầu môi, ngay từ thời xa xưa đã tự chứng tỏ mình chưa bao giờ là những người chân yếu tay mềm, hay ít nhất là không cam chịu thua kém quá xa đám đàn ông VN vốn dĩ rất sành nghề chém gió. Kể cả trong những việc tưởng như chỉ dành riêng cho đàn ông, là dựng nước và giữ nước.

Cho dù nền GD và XH hiện nay có thể sinh ra những đứa trẻ không biết đến Bà Triệu hoặc nước ta có mấy Bà Trưng, thì trong lịch sử và cả dã sử cũng đã từng ghi công của các bà. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Dường như có một sự bất công nào đó khi LS (hiện nay) chỉ đề cao những chiến công đánh giặc mà không coi trọng công lao của những người mở đất hay những đóng góp hy sinh thầm lặng khác. Để cho những cống hiến âm thầm ấy bị lãng quên, bị chìm trong góc khuất của LS là một điều đáng để cho giới sử học hậu sinh phải hổ thẹn.

Ở đây chỉ nói về ba người mà công trạng của họ không hề kém, thậm chí còn hơn nhiều các danh tướng, nhưng lại rất ít người biết tới. Chính họ, chứ không phải ai khác đã góp phần rất lớn, nếu không muốn nói là quyết định, để quê ta có được hình hài như ngày hôm nay.

1. Người đầu tiên, và được nói đến nhiều hơn cả – dù không nhiều bằng Hai Bà Trưng hay Bà Triệu, là Công chúa Huyền Trân, người đã góp phần mang về cho nước Đại Việt thêm 2 châu Ô, Lý.

Huyền Trân công chúa là con gái của vua Trần Nhân Tông và là em gái vua Trần Anh Tông. Bà sinh vào năm 1287. Năm 1293, vua Trần Nhân Tông thoái vị, hoàng thái tử Trần Thuyên lên nối ngôi (tức là hoàng đế Trần Anh Tông). Vua Trần Nhân Tông trở thành Thái thượng hoàng, lên tu ở núi Yên Tử. Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời du ngoạn vào Chiêm Thành và được vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu. Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương ngày nay).

Sau đó nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành.

Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) làm hồi môn, vua Trần Anh Tông mới đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân. Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu Paramecvari. Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang. Theo tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền, đưa Huyền Trân về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm và theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Trần Khắc Chung đã tư thông với công chúa.

(Tuy nhiên, một số người đời sau cho rằng câu chuyện này có phần thêu dệt chuyện nêu lý do công chúa phải lên giàn hỏa, đó chỉ là cớ do sách Việt sau này viết thêm. Theo tiến sĩ Po Dharma, công chúa Huyền Trân không hội đủ điều kiện để xin lên giàn hỏa vì  theo truyền thống Champa xưa, đây là một vinh dự và chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được phép hủy thân trên giàn hỏa với chồng của mình. 

Chuyện Trần Khắc Chung tư thông với Huyền Trân có thể chỉ là gièm pha, đồn thổi vì có sự chênh lệch tuổi tác quá lớn, và Trần Khắc Chung có tiếng là người đạo đức, lại nữa, trên tàu còn có rất nhiều người khác cùng đi, như là An Phủ Sứ Đặng Vân).

Tháng 8 năm Mậu Thân (1308), Huyền Trân về đến Thăng Long. Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộcBắc Ninh) vào năm 1309, dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng

Cuối năm Tân Hợi (1311), Hương Tràng cùng một thị nữ trước đây, bấy giờ đã qui y đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành. Sau đó, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự.

Bà mất ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340). Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là “Thần Mẫu” và lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn.

2. Một người nữa không được may mắn như công chúa Huyền Trân và rất đáng được nhắc tới, đó là công chúa An Tư, cô của công chúa Huyền Trân. Lịch sử dường như không có chỗ cho những cái nếu, song có thể chắc chắn rằng công lao của công chúa An Tư đối với sự tồn vong của nhà Trần (và từ đó, tới thành quả mà công chúa Huyền Trân mang về) là rất lớn.

An Tư là con gái út vua Trần Thái Tông. Ngày nay không còn ai biết bà sinh và mất năm nào.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi: “Sai người đưa công chúa An Tư đến cho Thoát Hoan là có ý làm giảm bớt tai họa cho nước vậy”.

Trong Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ cũng chỉ ghi:”Thoát Hoan lên sông Nhĩ Hà, cột liền bè vào làm cầu, cho quân qua sông. Quân ta theo hai bên sông lập đồn để cự lại, không được. Ngày đã về chiều, quân giặc qua được sông vào kinh thành, vua sai đưa Thiên Tư Công chúa cho chúng, để thư nạn cho nước”.

Ngày ấy, khoảng đầu năm ất Dậu (1285), quân Nguyên đã đánh tới Gia Lâm vây hãm Thăng Long. Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông đã đi thuyền nhỏ ra vùng Tam Trĩ, còn thuyền ngự thì đưa ra vùng Ngọc Sơn để đánh lạc hướng giặc. Nhưng quân Nguyên vẫn phát hiện ra. Ngày 9/3, thủy quân giặc đã bao vây Tam Trĩ suýt bắt được hai vua. Chiến sự buổi đầu bất lợi. Tướng Trần Bình Trọng lại hy sinh dũng cảm ở bờ sông Thiên Mạc. Trước thế giặc mạnh, nhiều tôn thất nhà Trần như Trần Kiện, Trần Lộng, kể cả hoàng thân Trần ích Tắc đã mang gia quyến chạy sang trại giặc. Trần Khắc Chung được sai đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của giặc không có kết quả. Trong lúc đó, cần phải có thời gian để củng cố lực lượng, tổ chức chiến đấu. Bởi vậy, Trần Thánh Tông bất đắc dĩ phải dùng đến kế mỹ nhân. Vua sai dâng em gái út của mình cho Thoát Hoan. Vì nước (đúng hơn là vì hoàng tộc), công chúa An Tư đã hiến dâng tuổi trẻ, đời con gái, kể cả tính mạng mình. Bà đã vào trận mà không cần có dù chỉ một tấc sắt.

Tháng tư năm ấy quân Trần bắt đầu phản công ở hầu khắp các mặt trận. Quân Nguyên đại bại, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn qua biên giới.

Sau chiến thắng các vua Trần làm lễ tế lăng miếu, khen thưởng công thần, truy phong các tướng lĩnh. Nhưng không ai nhắc đến An Tư. Không ai biết công chúa còn hay mất, được mang về Trung Quốc hay đã chết trong đám loạn quân. Trong cuốn “An Nam chí lược” của Lý Trắc, một thuộc hạ của Trần Kiện theo chủ chạy sang nhà Nguyên, sống lưu vong ở Trung Quốc có ghi: “Trước, Thái tử (chỉ Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con”. Không có chứng cứ rõ ràng khẳng định người con gái họ Trần này là công chúa An Tư. Chỉ chắc chắn một điều: bà đã có một số phận thật bi thảm, nhất là khi bà phải nhận lấy sự bạc bẽo vô ơn của dòng tộc và của LS đền đáp cho sự hy sinh cao cả của mình.

(Khoảng năm 1943, câu chuyện về người công chúa này đã được nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết thành cuốn tiểu thuyết lịch sử An Tư. Tiểu thuyết lịch sử An Tư viết xong ngày 18 tháng 12 năm 1943. Sau đó được đăng báo Tri tân từ 15 tháng 6 năm 1944 đến 12 tháng 7 năm 1945).

3. Người thứ ba cũng ít được nhắc tới, cho dù công lao của bà trong sự  nghiệp mở nước không hề nhỏ, đó là công chúa Ngọc Vạn.

Công chúa, hay Công nữ Ngọc Vạn, có họ tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn, gọi tắt là Ngọc Vạn, không rõ năm sinh năm mất, là con gái thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi 1613-1635). Nhiều tài liệu trước đây thường ghi tước vị của bà là công chúa, nhưng thực sự bà là công nữ, vì bà chỉ là con của chúa Nguyễn (thời đó chưa phải là vua).

Năm Canh Thân (1620), bà được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Nhờ có cuộc hôn phối này mà tình giao hảo giữa hai nước được tốt đẹp, để chúa Nguyễn có thể dồn lực lại hòng đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam.

Theo Henri Russier:

“Chúa Nguyễn lúc bấy giờ rất vui mừng thấy Cao Miên muốn giao hảo bèn gả công chúa cho vua Cao Miên. Công chúa xinh đẹp và được vua Miên yêu quý vô cùng…Năm 1623, sứ bộ Việt từ Huế đến Oudong yết kiến vua Cao Miên, dâng ngọc ngà châu báu, xin người Việt được khai khẩn và lập nghiệp tại miền Nam…Hoàng hậu xin chồng chấp thuận và cua Chey Chetta đã đồng ý”

(Trích trong cuốn “Histoire sommaire du Royaume de Cambodge”).

Còn theo Phan Khoang:

“Từ thế kỷ 17 đã có nhiều người Việt Nam đến hai xứ Đồng Nai và Mỗi Xuy của Chân Lạp (tức Biên Hòa, Bà Rịa ngày nay), để vỡ đất làm ruộng. Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công nữ con chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và chúa Hy Tông (chúa Sãi) có mưu đồ xa xôi, năm 1620, đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân Lạp sau này. Bà hoàng hậu đem nhiều người Việt đến, có người được giữ chức hệ trọng trong triều, bà lại lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn gần kinh đô.

Đến năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kôr – tức Sài Gòn ngày nay, và được lập ở đấy một sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đấy làm ăn rồi lấy cớ để giúp chính quyền Miên gìn giữa trật tự, còn phải một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kôr nữa. Khi Chey Chatta mất, vùng đất từ Prey Kôr trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành (tức là Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay), đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai”

(Trích trong cuốn “Việt sử xứ Đàng Trong”, phần “Chúa Nguyễn gây ảnh hưởng trên đất Chân Lạp”).

Sau khi vua Chey Chatta mất, trải qua hơn 50 năm luôn phải tìm cách tồn tại trong chốn vàng son nhưng đẫm máu ở cung đình thì theo lời kể, Thái hậu Ngọc Vạn đã về Sài Côn, rồi lui về sống ở Bà Rịa. Rồi bà cho lập chùa Gia Lào (núi Chứa Chan, Đồng Nai), ẩn tu cho đến hết đời.

Chẳng biết đến khi nào thì LS ở quê ta mới tôn vinh một cách đúng mức những người có công lao với đất nước chứ không phải chỉ là những anh hùng với chiến công đánh giặc lẫy lừng?

Tháng 12/2012

Nguồn tham khảo:

http://vietsciences.free.fr/vietnam/danhnhan/vua/huyentran.htm

http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Tr%C3%A2n

http://vietsciences.free.fr/vietnam/danhnhan/vua/antucongchua.htm

http://vi.wikipedia.org/wiki/An_T%C6%B0

http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_n%E1%BB%AF_Ng%E1%BB%8Dc_V%E1%BA%A1n

http://phunutoday.vn/blog-nguoi-noi-tieng/nguoi-noi-tieng/201204/Ngoc-Van-va-hanh-trinh-tro-thanh-Vuong-hau-Chan-Lap-2150000/

 

 

 

Advertisements

28 responses to “Những công chúa không nổi danh

  1. Cảm ơn anh Cua đồng về bài viết rất chi tiết và bổ ích.

  2. Chẳng biết đến khi nào thì LS ở quê ta mới tôn vinh một cách đúng mức những người có công lao với đất nước chứ không phải chỉ là những anh hùng với chiến công đánh giặc lẫy lừng?
    Bác hỏi ai thì hỏi chứ đừng hỏi em, xợ lắm!
    Mí lị theo quan điểm của đảng ta thì chỉ có Pháp với Mỹ mới gọi là giặc, còn lại tuyền là “các bạn vô tình” xâm lược nước ta. 😀

  3. Còn một công chúa nữa, đó là Nguyễn Thanh Phượng, gả cho Mỹ để tiến tới Đại đồng cả nước Mỹ. Một sự hi sinh cao cả mà bác Cua quên nhắc quả là thiếu sót lớn.

  4. Cha chả, công phu hè, kính phục anh cua

  5. Chờ giây phút tận thế hay sao mà thăng hoa với mấy công chúa thế ?
    Thực ra thì đó không phải ( có thể ) là công , họ ( những công chúa ấy ) cũng như những người lính đã hi sinh cho một chiến thằng nào đó mà thôi.
    Nhưng lịch sử cũng có câu :” Mĩ nhân tự cổ như danh tướng … ” rồi !
    ( P/s : Riêng lão trà hâm lại tin tưởng vụ ” trên thuyền ” của công chúa Huyền Trân – lênh đênh cả năm … cảnh biển thì thơ mộng …. )

  6. Nói chung mình thích phụ nữ, hay công chúa cũng thế không cần nổi danh, mà nổi những cái cần phải nổi! 😀

  7. “Những công chúa không nổi danh”

    Wow..!
    Bác Cua nói sao đó chứ! Bởi, với chính bài viết sưu tầm rất kì công, đầy thú vị này của bác, thì bác..đã làm cho 3 bà “nổi danh” với hậu thế rồi đó..bác Cua ơi!
    hihihihihi…

    • Ròm quá lời rồi. Chỉ mong mọi người nhớ một chút tới những người không được nhắc tới trong khi những người khác được vinh danh rổn rảng bấy lâu là may lắm rồi đó.

  8. Bác Cua ơi
    Nhà Văn Khuất Đẩu, cũng có viết một truyện về “Huyền Trân Công Chúa”, đọc cũng thấy thú vị lắm!
    Ròm con mời, lúc nào ranh rảnh, bác Cua thử đọc xem..thư giãn..nghen!

    HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA
    ( Khuất Đẩu )

    – Các nhà viết sử ngày xưa rất kiệm lời. Câu chuyện công chúa Huyền Trân chỉ có mấy dòng như thế này:

    “Năm Tân Sửu (I301) Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông đi sang Chiêm Thành xem phong cảnh có ước gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người đưa vàng bạc và sản vật quý hiếm sang cống và xin cưới. Triều thần có nhiều người không thuận. Chế Mân lại xin dâng châu Ô và châu Rí làm lễ cưới, bấy giờ vua Anh Tông mới quyết ý thuận gả. Đến tháng sáu năm Bính Ngọ (1306) cho công chúa về Chiêm Thành. Chưa được một năm, Chế Mân mất, mà theo tục Chiêm thành vua chết thì hậu phải chết theo. Anh Tông được tin ấy sai Trần Khắc Chung giả mượn tiếng vào thăm để cứu công chúa. Nhân đó Khắc Chung cùng nàng tư thông trên biển.”
    Đọc những dòng trên tôi cứ trăn trở mãi: vì sao một vì vua anh minh và nhân hậu như Trần Nhân Tông lại đem con gái yêu của mình gả bán cho Chế Mân? Trần Khắc Chung là ai mà sau khi cứu được công chúa lại cùng nàng tư tình trên biển gần cả năm mới về? Và Huyền Trân, một trong ba nàng công chúa Việt Nam có số phận nghiệt ngã (hai nàng kia là Mị Châu và Ngọc Hân) đã đi vào lịch sử như một người có công lớn sao vẫn bị hậu thế mỉa mai?!

    http://WWW.TALAWAS.ORG/?P=23346

  9. Bác Cua ơi,
    Bài viết của bác sưu tầm tài liệu (theo ròm con) là rất kì công, khiến ròm con đọc thấy..”vỡ” và “ngộ” ra được nhiều điều thú vị lắm!
    Tuy nhiên, thật lòng, có một vài điểm (trên tinh thần học thuật), khi đọc, ròm con thấy hơi hơi..lấn cấn, và hơi hơi chưa được “thông” lắm!? hihihihihihi…
    Bác Cua thử “rà soát” lại thử nghen, đó là các điểm:

    1/ “Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời du ngoạn vào Chiêm Thành và được vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu.”
    – VUA Chiêm Thành, hay là…CHÚA Chiêm Thành?

    2/ “Sau đó nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành.”

    – Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung, hay là…Nhập nội ĐẠI hành khiển Trần Khắc Chung?

    3/ “Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) “
    – Châu RÝ là chính xác chính sử, hay là…Châu LÍ?

    4/ “Chuyện Trần Khắc Chung tư thông với Huyền Trân có thể chỉ là gièm pha, đồn thổi vì có sự chênh lệch tuổi tác quá lớn, và Trần Khắc Chung có tiếng là người đạo đức…”
    – Trần Khắc Chung có tiếng là người ĐẠO ĐỨC? Ui! Bác Cua tham khảo tài liệu nào, mà “phán” như ..”đinh đóng cột”..thế, vậy bác?
    Hihihihi…

    • Ròm: về cơ bản thì thông tin trong bài được lấy trong các bài tham khảo đã dẫn nguồn, mình chưa có điều kiện tham khảo các tư liệu khác. Nhưng sai khác đôi chút không phải là cái mình muốn nói tới, mà điều muốn nói chính là xưa nay người ta chỉ mải tung hô những tấm gương đáng giặc giữ nước mà bỏ qua công lao của những người mở nước, mà trong nhiều trường hợp công lao quyết định lại là nhờ những người phụ nữ VN, chứ không phải là các anh hùng này nọ. Hay nói ngắn gọn, hãy sòng phẳng, công bằng với LS.

      • Bác Cua:
        Dạ, Ròm con đọc hiểu “ý tưởng và tấm lòng” của bác Cua muốn gởi gấm trong cái entry kì công thú vị này ạ!
        Chỉ hơi tiêng tiếc chút chút (hihihihi…), giá một số chi tiết mà được bác Cua đối chiếu tham khảo từ tài liệu lịch sử “gốc, chính thống” là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, thì entry này rất..”nặng ký”..lắm ạ!

        Bác Cua thử đọc tham khảo nghen:

        – Đại Việt sử ký toàn thư
        – Bản năm Chính Hòa thứ 18 (1697)
        ( Mục: Bản kỷ toàn thư – Kỷ nhà Trần : Anh Tông Hoàng Đế (62 trang)

        http://www.nomna.org/du-an-nom/dai-viet-su-ki-toan-thu/Noi-dung-toan-van/41-Anh-Tong-Hoang-De

        P/s:
        Các ý mà ròm con đề cập ở còm trên, nằm ở các chương:
        1/ ở trang 41
        2/ ở trang 34
        3/ ở trang 43
        4/ ở trang 45

        • Rất nhiều điều đáng đọc. Có điều đọc xong càng thấy rõ một cảm tưởng là các sử liệu ở quê ta còn rất lâu mới đạt tới tầm của một môn khoa học.
          Anyway, thanh kiu, Mr. Ròm 🙂

  10. Đại hàn DQ thì năm nay ngược lại, có… pim “Những nàng công chúa nổi danh” (giờ VN chuyển thể bằng pim vit rồi!) !!!??? KAKAKA! SÓC là SÓC cứ là ưa trớt wuớt chọc anh Cua cho nó giảm nhẹ bớt cái độ khen, kẻo anh lại bẩu SÓC biết kái giề mà khen lia lịa! :opps:

    • Nam Hàn là bọn theo đuôi Mỹ để kiếm bơ thừa sữa cặn, so làm sao được với quê ta có người bạn 4/16, không thèm tính.

      • DÀ DÀ!!!! Dạ lia rứa chớ SÓC toàn đội sổ môn thời sự, chính trị lắm anh! Đừng thất vọng.. SÓC ráng giỏi môn khác! Cơ mà anh cũng dìu trẻ mầm non này chút đi! Người bạn 4/16 là phải thèng TQ hôn anh Cua? 😳

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s