Bộ sưu tập

BÀ TÔI

(Rút từ Hồi ký của bác Đặng Trung, có lược bớt vài dòng, với sự đồng ý của Mrs. Đặng Tuyết Anh)

Tôi được nghe kể, ông bà nội tôi khởi đầu sinh cơ lập nghiệp trong cảnh bần hàn, không đủ ruộng cày cấy nên phải đi nhận làm rẽ, nuôi trâu rẽ cho nhà ông cựu Hồng bên Ba Đình. Với tính cách cần cù tiết kiệm và ý chí làm giàu, cho các con ăn học, ông bà tôi dần dần có của ăn của để, gửi các bác và thầy tôi theo học cụ Hàn Tuyển (Cử nhân hàn lâm Lê Minh Tuyển) ở mãi tận Từ Minh, thuộc Hoằng Hoá, phía dưới cầu Hàm Rồng bây giờ chừng 2 km. Ông tôi mất sớm, lúc mới 51 tuổi và tôi còn chưa sinh. Thầy tôi là con út, sau khi thôi học, ông về quê trông nom ruộng vườn và kinh doanh. Khoảng sau năm 1930, thầy tôi đã xây ngôi nhà thứ ba theo kiểu mới (gọi là nhà tây). Một đầu nhà làm gian ngủ của bà, cạnh đó xây cho bà một căn nhà nhỏ hai gian, một gian làm bếp và một gian làm kho thóc.
Khi ấy bà tôi đã ngoài 70. Bà không ở với con nào mà thích sinh hoạt một mình, tự nấu lấy. Bà ưa ăn cơm thật dẻo, thịt cá kho mặn và canh rau tự hái. Bà thích nhất các loại rau mọc tự nhiên như rau sam, rau dền, rau đắng mọc ven rào… Những ngày phiên chợ Hoàng, chợ Đợn, con cháu mua thức ăn đem đến dâng bà, bà ăn ít nên thường cho lại các con cháu. Gạo cũng lần lượt các con bảo nhau làm gạo dẻo cho bà (gạo Chành, gạo Dự). Thường bà nuôi một cháu cho vui, cháu nào đã cứng cáp, không quấy nữa mà chưa đi học, khoảng 4-5 tuổi gì đấy. Bản thân tôi cũng được theo bà khoảng 2 năm rồi sau đó đến lượt anh Ái, chú Nhân, chú Huỳnh, rồi đến lượt các chắt là cháu Túc, cháu Như. Tuy già nhưng bà vẫn siêng năng, chăm chỉ giúp các cháu, khi thì quét nhà gảy rơm, hoặc kể chuyện cho các cháu nghe. Bà khuyên các cháu ngoan ngoãn vâng lời cha mẹ, không trèo cây. Bà dùng các câu thành ngữ, tục ngữ như “Có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo”. Bà dạy con cháu không được phá tổ chim bằng bài “Đét đa đa, trời là cha, đất là mẹ, nó bắt con tao, nó bỏ vào nồi nó nấu nó ăn, nó thả con tao, nó nằm giường cao chiếu sạch, nó ăn con tao nó nằm giường rách chiếu manh, đét đa đa”.
Như hầu hết mọi người phụ nữ khác thời bấy giờ, bà cũng không được học nhưng bà thuộc nhiều ca dao, tục ngữ, thơ dân gian. Bà đọc và dạy cho con cháu. Bà dặn con cháu không được nói tục và bà rất ghét người nói tục. Bà ăn nói từ tốn, điềm đạm, thường mắng cháu khi có lỗi bằng cụm từ: cha cha nhà cháu, thật thân thương và dễ tiếp thu. Bà theo đạo Phật, tại tâm, tại gia. Các con sắm cho bà một bộ đồ có dấu ấn nhà chùa, để dành ngày bà trăm tuổi, thỉnh thoảng trời nắng bà đem ra phơi. Theo lệ thời xưa của nhà giàu, các ông con cũng sắm cho bà chiếc áo gỗ bằng vàng tâm (hay dổi), vỗ vải sơn son, để dành bên nhà thờ cho bà. (Bộ áo này sau cải cách họ chia cho cố Sự, một thời gian sau các con cháu đặt vấn đề chuộc lại cho bà nhưng không được. Cố Sự là anh em con chú con bác với thầy tôi, gọi bà là thím ruột). Bà là hình tượng mẫu mực xưa của một người đàn bà Việt Nam truyền thống, chăm chỉ thật thà, nhẫn nhục, một lòng vì chồng con và gia đình. Ông mất đi, bà cáng đáng gia đình nuôi dạy con cái, lại được bác Cả (anh Cả giả cha), chèo chống cùng bà nuôi dạy, gây dựng cho 4 em đều trưởng thành và khá giả, trở thành một gia đình có gia thế ở huyện Nga Sơn trong nhiều thập kỷ đầu thế kỷ 20.
Mùa xuân năm 1936, các bác cùng anh, em con cháu tổ chức mừng thọ cho bà lên lão thất tuần rất linh đình. Cả huyện Nga Sơn chưa từng có gia đình nào tổ chức được chu đáo như vậy.

ẤN TƯỢNG ĐÁM MỪNG THƯỢNG THỌ 70 CỦA BÀ

Đó là đầu xuân năm 1936 (năm Mậu Tý). Hai bác cùng thầy tôi đã dự tính công việc từ trước. Anh em chúng tôi khi đó tuy còn nhỏ nhưng bây giờ ôn lại chuyện xưa cũng thấy là nhờ có sự gia thuận, anh em một lòng, với bác Cả là người chủ trì bố trí sắp đặt mọi chuyện và thầy tôi là người thừa hành chính, theo dõi phân công thực hiện, nên đám mừng đã được tổ chức rất tốt. Còn bác Phới vì bận việc công (ngày ấy gọi là việc quan) nên nói chung bác chỉ thông qua mọi chuyện. Thầy tôi quán xuyến công việc, đi mua lợn bò từ cuối mùa thu năm trước, đem về phân công con cháu nuôi cho đến ngày có đám. Gạo nếp, gạo tẻ cũng phân công cụ thể từng nhà con cháu lo liệu để đến khi vào đám đã sẵn sàng. Bát đĩa cho đám cũng phải mua thêm nhiều, đồng thời các con cháu cũng đem đến cho mượn, có đánh dấu để sau này còn trả lại. Đồ gỗ ghế mây, các bức trướng, câu đối thêu, thầy tôi ra tận thành Nam sắm sanh từ trước Tết. Tất cả lợn bò đều do thầy tôi đi tìm trong vùng, mấy huyện Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, mua và nuôi sẵn, vì khi ấy không phải nhà ai cũng nuôi được lợn to. Có con thầy tôi lên tận Thạch Thành mua về. Tôi còn nhớ, có con lợn phải 3, 4 người khiêng.
Đám lên lão thượng thọ của bà được tổ chức vào mùa xuân, tháng 2 năm 1936, vào thời điểm nông nhàn, cày cấy đã xong xuôi. Việc tính toán được thực hiện hết sức cẩn thận, cụ thể, lên lịch rõ ràng, ngày nào mời lớp khách nào. Gia đình khi đó là gia đình lớn, có gia thế, ba người con trai đều giàu có và đều có vai vế. Bác Cả vừa là thầy đồ vừa là thầy thuốc, khách là môn sinh, người chịu ơn bốc thuốc. Bác Cai có khách là hàng tổng và lý trưởng trong huyện, ngũ hương trong toàn tổng cùng lớp khách là quan huyện và các quan chức trong huyện. Còn thầy tôi tuy khi ấy mới làm hương bạ (chức hương bạ như bây giờ là thư ký giữ sổ sách sinh tử, giá thú, hộ khẩu…) nhưng vì tính tình quảng giao và có nhiều bạn bè làm ăn, nên nói chung khách rất đông. Ngay trong làng Tứ Thôn cũng mời toàn dân – vì thật ra tất cả đều hơi có chút họ hàng bà con, dây mơ rễ má. Khi ấy, cả 4 thôn có khoảng dăm bảy chục nóc nhà. Đám thượng thọ mời người đang sống và cả người đã khuất. Trước ngày vào đám, đám thượng thọ đã mời và rước bát hương những người đã khuất của tất cả các gia đình toàn Tứ Thôn về để cúng trong suốt thời gian làm đám. Bên nhà bác Cả, ở giữa sân dựng rạp, trên cao lập bàn thờ cúng thiên địa, mời thợ làm cỗ ở làng Giáp ngoại đến nấu nướng. Ngày nào cũng mổ lợn, giã giò. Còn bò thì cứ một hai ngày lại mổ một con.
Khách sang trọng, thấp hèn cho chí khách là ăn mày bốn phương nghe nói có đám đều đổ về. Việc phân công tiếp khách được tổ chức chu đáo: Bà và bác Cả ở bên nhà bác Cả để tiếp khách đến chúc mừng, sau đó, nếu khách sang trọng thuộc lớp quan lại thì mời sang nhà bác Cai, còn thầy tôi trông nom mọi chốn mọi nơi. Thầy tôi cử người phụ trách từng lĩnh vực: Dượng lý Hiện (thầy bác Ái) trông nom kho rượu, bác Lý Đạm trông nom kho bát đĩa, rồi kho đồ đồng, mâm nồi, kho gạo nếp gạo tẻ, cho đến việc tiếp khách ăn xin thì giao cho chị cò Thường phụ trách. Nếu có ăn xin đến, cứ 2 người được sắp một mâm tận sân ngoài, tuy đơn giản nhưng cũng đủ cơm canh, đĩa thịt nhỏ và nắm xôi để họ ăn buổi trưa, chiều họ lại kéo vào ăn tối. Giữa trưa có lẽ họ ra đình ngủ hay lại đi các làng khác xin ăn.
Việc đón tiếp khách đến mừng cũng được tổ chức cụ thể. Bác Cả cắt đặt bàn tiền trạm đón tận ngoài nhà thờ họ, khách đến đấy được đón vào uống nước, đặt quà mừng lên mâm hay bàn, gõ trống báo hiệu cho khu nhà trong biết có khách đến, trong nhà ra đón khách và khiêng hoặc đội lễ mừng vào. Trong nhà chính đã có bác Cả đón khách, sau đó mời khách ra bàn cỗ và nước. Lại đón đoàn chèo làng Si và cả cô đào kép hát, tối tối mở đám hát cho bà con xem chèo. Bên bác Cai hát cô đầu còn bên bác Cả hát chèo. Cỗ bàn linh đình xưa phải có giò, nem, ninh, mộc. Giò thì thợ Giáp ngoại họ chế biến đủ kiểu: Giò thủ, giò hổ phù (Khi thái bầy ra đĩa trông giống mặt hổ), giò lá lật, giò chân, giò long, giò hoa, giò nạc. Cỗ dành để đãi lớp quan huyện thì thật là sang trọng. Cũng có cỗ thường hơn, và như đã nói, có cả cỗ đãi người ăn xin.
Đồ mừng thì đủ thứ nhưng nhiều nhất là các bức trướng thêu chúc mừng: phúc, lộc, thọ (thời ấy đồ khảm chưa nhiều). Trong số đồ mừng có hai đôi câu đối của ông thầy của ba ông – cụ Hàn Tuyển ở Từ Minh. Đôi câu đối như sau:
1/ Lễ học môn đình long hiếu dưỡng
Cát phùng tôn tử mị từ nhan
2/ Thế gia hệ xuất nho gia, tam đại tổ dĩ tiền đăng giáp bảng
Khách địa phiên thành tô địa, thất tuần dư kỷ thọ thụ phong thanh
Dịch nghĩa là:
1/ Học ở nền học vấn chính thống lòng hiếu thảo với cha mẹ
May mắn gặp được việc con cháu đi về thăm hỏi niềm nở
2/ Với xuất thân từ nhà nho, ông tổ ba đời trước đã đi thi cử
Đất khách trở thành đất tổ tiên, ngoài tuổi bảy mươi mừng thọ gia đình đã có danh tiếng
(Năm 1999, gia đình tổ chức thượng thọ 70 cho tôi. Ngẫm thấy hai câu đối rất hợp cảnh và cũng muốn ghi lại làm kỷ niệm, nên tôi đặt cụ Tuất ở Thường Tín làm lại, hiện treo ở nhà thờ của gia đình ở Sapa).
Đám mừng thượng thọ bà tôi kéo dài 7 ngày đêm, khách ra vào luôn tấp nập. Trong dịp này, bác Cả đã cho làm các cột đèn lồng bằng thuỷ tinh, bên trong đặt ngọn đèn dầu hoả treo dọc đường từ nhà thờ họ về ba nhà.
Sau đám thượng thọ của bà tôi, thế gia càng nổi khắp cả vùng Nga Sơn. Cuộc sống êm đềm, lớp cháu bà đã lớn, đến tuổi lo dần gia thất, tìm nơi môn đăng hộ đối kết tình giao hiếu.
Cho đến năm 1945…

Vườn hoa tại gia của bác Đặng Trung (ở Sapa)

Advertisements

34 responses to “BÀ TÔI

  1. Như cảnh mừng thọ trong truyện Hồng Lâu Mộng của Đào Tuyết Cần ấy nhỉ?
    Mừng cua đã trở lại bình an, tốt lành!

  2. Lột mai cua phát! Chưa bị bọn ló lấu canh, nhể!

  3. Bài dài dư lày là cướp biển cú lắm đấy, theo em thì bác không nên cà khịa cướp biển thế, dễ gây lục đục nội bộ lắm 😆

  4. Lâu không gặp Cháu bác Ba đâu cả nhể?Hay Cua và cô Ba dựng lều tranh xó xỉnh nào trốn anh em?
    😆

  5. Thấy bài viết dài, có lẽ rất đặc biệt nên xin phép in ra để tranh thủ đoc.
    Chúc chú luôn khỏe và vui 😆

    • Cám ơn bác 😀 .
      Bài này có nhiều điều giản dị nhưng rất đáng suy ngẫm đó bác ạ.

      • Chị đã đọc hết bài này và đã hình dung ra một cái lễ mừng thọ thật to, thật độc đáo, thật là hoành tráng có một không hai của thời kỳ phong kiến nhưng lại rất rộng lượng và ấm áp tình người!
        Người ta thường nói:
        Con vua thì lại làm vua
        Con sãi ở chùa lại quét lá đa
        Phải công nhận rằng thời nào cũng vậy, để có một con người đủ đức đủ tài thì việc dạy dỗ phải đưa lên số một, con vua hay nói đúng hơn là những gia đình có điều kiện kinh tế thì sẵn sàng đầu tư cho việc học của con em mình, bởi thế sự thành đạt và thuận lợi là điều dễ hiểu, còn những người mà tự vươn lên thì vất vả và khó khăn hơn.
        Chắc bây giờ con cháu, chắt, chút của bà cụ cũng được thừa hưởng những điều tốt đẹp về mọi mặt mà cụ để lại phải không chú ?

        • “Phải công nhận rằng thời nào cũng vậy, để có một con người đủ đức đủ tài thì việc dạy dỗ phải đưa lên số một”.
          Bác nói rất chuẩn. Có điều không chắc nhiều tiền như các nhà giàu hay vua quan thì con cái sẽ học được nhiều điều hay hơn con cái nhà nghèo đâu bác ạ. Còn phải xem nó học cái gì và học được cái gì 😀

  6. Chúc anh Cua đồng khỏe. Nhà bác Đặng Trung luôn welcome anh

  7. Nhanh nhở, mới đó nhoằng phát đã cả tháng rồi!

  8. Bố cái thằng nào đi nhờ mà dám rào đường, đéo biết luật pháp quốc tế gì cả. Kua là người đang mướn nhà của WP, có phải nhà bố nó đâu. Nhưng nó cứ bảo ông WP dùng vải xô của nhà nó để thấm, thì nó cứ đè mấy thằng mànxô nhà nó chặn. Gớm, thế mà đòi hội nhập. Có mà nhập quan.

  9. Trước sau gì cũng xảy ra chuyện này, một là lợi dụng dấu chân Khửa rồi bước theo, hai là Khửa quyết dẹp dùm cho bạn vàng. Nên mình vào nhà Kua dễ dàng vì đã chuẩn bị thang từ năm nẳm.

  10. Mình trèo tường vào được dồi. Nhưng vẫn vào bằng cửa nghách, không danh chính ngôn thuận. Tởm quá

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s